Tiến hóa của bộ Cá voi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khoảng 80-87 loài hiện nay trong bộ Cá voi.
Phát sinh học cho thấy mối quan hệ giữa các gia đình cá voi.[1]

Các loài cá voi đã tiến hóa từ các động vật có vú sống trên đất liền (có thể nhất có lẽ là từ tổ tiên chung là các dạng động vật ăn thịt có móng guốc, cùng nhánh chị em đồng tiến hóa kia là các động vật guốc chẵn (Artiodactyla) như lợnhà mã). Chúng có lẽ đã thích nghi với cuộc sống đại dương vào khoảng 50 triệu năm trước.

Artiodactyla, nếu như loại bỏ nhóm Cetacea, là một nhóm đa ngành. Vì lý do này, thuật ngữ khoa học Cetartiodactyla (cá voi+guốc chẵn) đã được tạo ra để chỉ nhóm chứa cả động vật guốc chẵn và cá voi (mặc dù vấn đề có thể dễ dàng giải quyết bằng cách coi Cetacea là một phân nhóm của Artiodactyla). Nguồn gốc sinh sống trên mặt đất của bộ Cá voi được chỉ ra bởi:

  • Chúng cần phải thở không khí trên mặt nước;
  • Các xương của vây giống với các chi của động vật có vú
  • Sự chuyển động thẳng đứng của cột sống, đặc trưng của một loài động vật có vú hơn so với các chuyển động ngang của cá.

Câu hỏi làm thế nào một nhóm các động vật có vú đất trở nên thích nghi với đời sống thủy sinh là một bí ẩn cho đến khi khám phá bắt đầu từ cuối những năm 1970 ở Pakistan tiết lộ nhiều giai đoạn trong quá trình chuyển đổi của các loài thú biển từ đất liền đến biển.

Các tổ tiên cổ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phát sinh loài cho thấy bộ cá voi thuộc Artiodactylamorpha

Theo học thuyết truyền thống thì cá voi có họ hàng gần với Mesonychia, một bộ thú móng guốc ăn thịt và là nhóm chị em của Artiodactyla (bộ Guốc chẵn). Giả thuyết này sinh ra là do loại răng ba đĩnh bất thường của Mesonychia và cá voi. Tuy nhiên, dữ liệu phát sinh loài phân tử gần nay hơn cho rằng cá voi gần với bộ Guốc chẵn hơn, đặc biệt là hà mã.[2] Tuy nhiên, Anthracotheriidae cổ nhất, tổ tiên của hà mã, chỉ xuất hiện vào giữa thế Eocene, nhiều triệu năn sau khi Pakicetus, tổ tiên của cá voi, xuất hiện vào đầu thế Eocene, cho thấy hai nhánh này đã tách biệt từ trước thế Eocene.

Dữ liệu phân tử được ủng hộ bởi phát hiện Pakicetus, chi tiền cá voi cổ nhất. Bộ xương Pakicetus cho thấy cá voi không bắt nguồn trực tiếp từ Mesonychia. Thay vào đó, chúng là những Artiodactyla bắt đầu sống dưới nước không lâu sau khi Artiodactyla tách khỏi Mesonychia. Đáng chú ý rằng hầu hết tổ tiên động móng guốc đều ăn thịt hay xác thối, và bộ Guốc chẵn và bộ Guốc lẽ đã chuyển sang ăn thực vật. Ngược lại, cá voi vẫn giữa chế độ ăn thịt, vì con mồi của chúng có sẵn hơn và cần lượng calo nhiều hơn. Mesonychia cũng chuyên biệt hóa để ăn thịt, nhưng đây là một bất lợi vì con mồi lớn khi đó chưa phổ biến. CreodontaCarnivora thích nghi tốt hơn đã đánh bại Mesonychia trong cuộc đua lắp đầy hốc sinh thái của khủng long.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thewissen, J. G. M.; Williams, E. M. (1 tháng 11 năm 2002). “THE EARLY RADIATIONS OF CETACEA (MAMMALIA): Evolutionary Pattern and Developmental Correlations”. Annual Review of Ecology and Systematics 33 (1): 73–90. doi:10.1146/annurev.ecolsys.33.020602.095426. 
  2. ^ University Of California, Berkeley (2005, February 7). “UC Berkeley, French Scientists Find Missing Link Between The Whale And Its Closest Relative, The Hippo”. ScienceDaily. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2007.