Unyō (tàu sân bay Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese escort carrier Unyo in 1943.jpg
Tàu sân bay hộ tống Nhật Bản Unyō vào năm 1943
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Mitsubishi
Đặt lườn: 14 tháng 12 năm 1938
Hạ thủy: 31 tháng 10 năm 1939
Hoạt động: 31 tháng 5 năm 1942
Xóa đăng bạ: 1944
Số phận: Bị đánh chìm ngày 17 tháng 9 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Taiyō
Trọng tải choán nước: 17.830 tấn (tiêu chuẩn);
19.500 tấn (đầy tải)
Độ dài: 173,7 m (569 ft 11 in) mực nước
180,4 m (591 ft 10 in) chung
Sườn ngang: 22,5 m (73 ft 10 in)
Mớn nước: 7,74 m (25 ft 5 in)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hộp số Kampon
4 nồi hơi Kampon
2 × trục
công suất 25.200 mã lực (18,5 MW)
Tốc độ: 39 km/h (21 knot)
Tầm xa: 12.000 km ở tốc độ 33,3 km/h
(6.500 hải lý ở tốc độ 18 knot)
Nguồn khác: 8.500 hải lý
Thủy thủ đoàn: 850
Vũ trang:

Khi hoàn tất:
4 × 1 pháo phòng không 120 mm L/45 Kiểu 10
4 × 2 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
23 tháng 6 năm 1942:
4 × 1 pháo phòng không 120 mm L/45 Kiểu 10
2 × 3 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
4 × 2 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
1 tháng 2 năm 1943:
4 × 1 pháo phòng không 120 mm L/45 Kiểu 10
6 × 3 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
6 × 2 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
8 × mìn sâu Kiểu 95

10 tháng 8 năm 1944:
6 × 1 pháo phòng không 120 mm L/45 Kiểu 10
8 × 3 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
2 × 2 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
31 × 1 súng phòng không 25 mm L/60 Kiểu 96
8 × mìn sâu Kiểu 95
Bọc giáp: 25 mm (1 inch) đai giáp hông bên trên động cơ và hầm đạn
Máy bay mang theo: 27: 9 × máy bay tiêm kích
18 × máy bay ném bom cường kích

Unyō (tiếng Nhật: 雲鷹) là một tàu sân bay hộ tống thuộc lớp Taiyō được Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó bị một tàu ngầm Mỹ đánh chìm vào năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc tàu biển chở hành khách Yawata Maru (八幡丸) của hãng tàu Nippon Yusen được đạt lườn tại xưởng đóng tàu của Mitsubishi tại Nagasaki vào tháng 12 năm 1938, được hạ thủy vào tháng 10 năm 1939 và hoạt động từ tháng 7 năm 1940.

Nó được Hải quân Nhật trưng dụng vào tháng 10 năm 1941. Từ ngày 25 tháng 11 năm 1941 đến ngày 31 tháng 5 năm 1942, Yawata Maru được cải biến tại xưởng hải quân Kure. Sàn đáp của nó có kích thước 150 x 23 m và được trang bị hai thang nâng. Do không được trang bị bất kỳ một đảo cấu trúc thượng tầng, máy phóng hay dây hãm nào, Yawata Maru được xếp loại như một tàu chiến phụ trợ. Vào ngày 31 tháng 7 năm 1942, nó được xếp lại lớp thành một tàu sân bay hộ tống và được đổi tên thành Unyō.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Unyō được sử dụng chủ yếu vào công việc huấn luyện bay và vận chuyển máy bay. Nó thường di chuyển cùng các con tàu chị em với nó TaiyōChūyō. Vào ngày 10 tháng 7 năm 1943, ngoài khơi Truk, nó trúng phải một quả ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ Halibut. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1944, trên đường đi đến Yokosuka, nó lại bị đánh trúng và hư hỏng nặng bởi ba quả ngư lôi phóng từ tàu ngầm Haddock. Trong khi đang trú ẩn tại Garapan, Saipan vào ngày 23 tháng 1, một cuộc tấn công tiếp theo của Halibut bị đẩy lui. Sau khi được sửa chữa, chiếc tàu sân bay quay trở lại hoạt động vào tháng 6 năm 1944.

Vào ngày 17 tháng 9 năm 1944, Unyō bị đánh trúng hai quả ngư lôi phóng ra từ tàu ngầm Barb. Những nỗ lực của thủy thủ đoàn nhằm giữ chiếc Unyō bị thất bại. Trong tổng số khoảng 1.000 người có mặt trên tàu bao gồm thủy thủ đoàn và hành khách, 761 đã được cứu sống.

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dr. Bak József et al. (1984): Hadihajók. Típuskönyv. Zrínyi Katonai Kiadó. ISBN 963-326-326-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]