Thiên hoàng Momozono

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đào Viên Thiên hoàng)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Momozono
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Momozono.jpg
Momozono
Thiên hoàng thứ 116 của Nhật Bản
Tại vị 1747–1762
Tiền nhiệm Thiên hoàng Sakuramachi (thân phụ)
Kế nhiệm Thiên hoàng Go-Sakuramachi (chị gái)
Thông tin chung
Phối ngẫu Ichijō Tomiko
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Thiên hoàng Sakuramachi
Thân mẫu Anegakōji Sadako
Sinh 14 tháng 4, 1741(1741-04-14)
Mất 31 tháng 8, 1762 (21 tuổi)
An táng Tsuki no wa no misasagi (Kyoto)

Momozono (桃園 Momozono- tennō ?, Ngày 14 tháng 4 năm 1741 - 31 tháng 8 năm 1762) là Thiên hoàng thứ 116[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2].

Triều Momozono kéo dài từ năm 1747 cho đến khi ông qua đời vào năm 1762[3].

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của ông (imina) là Toohito (遐仁 ?); và danh hiệu trước khi lên ngôi là Yaho-no-miya (八穂宮) và sau là Sachi-no-miya (茶地宮).

Ông là con trai trưởng của Thiên hoàng Sakuramachi. Mẹ ông là công nương Sadako (定子), tức Thái hậu Kaimei, 開明 門 院). Thuở nhỏ ông sống cùng hoàng tộc tại cung điện Heian.

Tháng 4/1747, ông được cha phong làm Thái tử[4].

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 09 tháng 6 năm 1747, Thiên hoàng Sakuramachi qua đời và con cả là thân vương Toohito lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Momozono[5].

Năm 1748, Thiên hoàng tổ chức buổi trình diễn rối nước khắc hoạ lại sự kiện Bốn mươi bảy Ronin năm 1702[6].

Năm 1748 và 1752, Vương quốc Ryukyu cử sứ giả sang quan hệ ngoại giao với Mạc phủ[7].

Tháng 10/1749, cơn bão khủng khiếp ở thủ đô Kyoto tàn phá nhiều nhà cửa và người, toà thành Nijo bị cháy sau khi sét đánh[8].

Năm 1758, các quý tộc (kuge) nổi dậy chống lại chính sách thống trị của Mạc phủ, đòi trao trả quyền hành cho Thiên hoàng[9]. Từ điển Thần đạo (Shinto) ghi: các quý tộc là kampaku Konoe Uchisaki (1728-1785), Yoshida Kaneo (1705-87) và nhiều quý tộc khác[10]. Đứng đầu nhóm này là Takenouchi Shikibu, người học trò đi theo Yamazaki Ansai để học Suika Shintô (Thùy gia thần đạo, thuyết kết hợp Thần đạo với Nho học, xem trọng uy quyền thiên hoàng)[11]. Shikibu cùng với Yamagata Daini trở về Kyoto, cùng các đồng sự của mình cố gắng vận động các quan lại ở triều đình dùng quyền lực của mình để gây áp lực với Shogun, buộc ông ta (tức Shogun Tokugawa Ieshige) phải trao trả ủy quyền cho Thiên hoàng. Cuộc vận động của Shikibu bị quân Shogun phát hiện và đàn áp[12], nhiều người bị bắt và bị đi đầy.

15 tháng 9 năm 1762, Thiên hoàng thoái vị[13] và nhường ngôi cho chị gái cả là Nội thân vương Toshiko, về sau sẽ lên ngôi với hiệu Thiên hoàng Go-Sakuramachi.

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

nengō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Enkyō (1744-1748)
  • Kan'en (1748-1751)
  • Hōreki (1751-1764)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

hoàng hậu Ichijo Tomiko (一条 富 子). Bà sinh ra:

  • Con trai đầu: Hoàng tử Hidehito (英仁親) (Thiên hoàng Go-Momozono)
  • Con trai thứ hai: Hoàng tử Fushimi-no-miya Sadamochi (伏見宮貞行親王)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 桃園天皇 (115)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, pp. 119–120.
  3. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 418-419.
  4. ^ Meyer, Eva-Maria. (1999). Japans Kaiserhof in der Edo-Zeit, p. 48. ^ Một b
  5. ^ Meyer, p. 48.
  6. ^ Hall, John. (1988) The Cambridge History of Japan, p. 23
  7. ^ Titsingh, p. 418.
  8. ^ Ponsonby-Fane, R. (1959), Kyoto: the Old Capital of Japan, 794–1869, p. 321; Titsingh, p. 418.
  9. ^ Ponsonby-Fane, Imperial House, p. 119.
  10. ^ http://eos.kokugakuin.ac.jp/modules/xwords/entry.php?entryID=547
  11. ^ http://chimviet.free.fr/vannhat/namtran/GiaoTrinhLSNhatBan/NNT_GTLichSuNB_2_ch04.htm
  12. ^ https://books.google.com.vn/books?id=VJFdBwAAQBAJ&pg=PA109&lpg=PA109&dq=Takeuchi+Shikibu&source=bl&ots=uakWzqUfL2&sig=suVuv8AOHNBVlY_zS50plAsFuvY&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwj6y7LbtefQAhUKjZQKHTCaDjcQ6AEILjAD#v=onepage&q=Takeuchi%20Shikibu&f=false
  13. ^ Titsingh, p. 419.