Khán thính giả mục tiêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Khán thính giả mục tiêu (bao gồm khán giả mục tiêuthính giả mục tiêu) hoặc độc giả mục tiêu (tiếng Anh: target audience) là đối tượng khán thính giả hay tập thể độc giả được mong đợi của một xuất bản phẩm, bài quảng cáo hoặc những thông điệp khác. Trong marketingquảng cáo, đó là một nhóm người tiêu dùng cá biệt trong phạm vi thị trường mục tiêu đã xác định trước, được nhận diện là những đối tượng hay người tiếp nhận một bài quảng cáo hoặc một thông điệp riêng biệt.[1] Các doanh nghiệp có một thị trường mục tiêu rộng lớn sẽ tập trung vào một đối tượng khán thính giả mục tiêu cụ thể cho những thông điệp nào đó để gửi đi, ví dụ như quảng cáo nhân dịp Ngày của Mẹ của công ty The Body Shop, vốn được nhắm tới trẻ em và các đấng lang quân của phụ nữ hơn là nhắm đến toàn bộ thị trường khi nó bao gồm cả chính bản thân những người phụ nữ.[1]

Khán thính giả mục tiêu được cấu thành từ các nhân tố giống với thị trường mục tiêu, nhưng nó cụ thể hơn và dễ bị ảnh hưởng từ các nhân tố khác.

Việc chỉ ra sự khác biệt giữa thị trường mục tiêu và khán thính giả mục tiêu thì gần với sự khác nhau giữa marketing và quảng cáo. Trong marketing, thị trường được nhắm tới bởi các chiến lược kinh doanh, trong khi quảng cáo và các phương tiện truyền thông như chương trình truyền hình, âm nhạc và các phương tiện truyền thông in ấn (báo chí) lại được sử dụng hiệu quả hơn khi hấp dẫn khán thính giả mục tiêu. Một chiến lược tiềm năng để hấp dẫn khán thính giả mục tiêu sẽ là những món đồ chơi quảng cáo trên các chương trình truyền hình buổi sáng dành cho thiếu nhi hơn là chương trình tin tức buổi tối.[2]

Tiếp cận khán thính giả mục tiêu là một quá trình theo cấp bậc, bắt đầu bằng việc lựa chọn nhân tố của thị trường mục tiêu. Lôi cuốn thành công một đối tượng khán thính giả mục tiêu thì đòi hỏi một kế hoạch truyền thông chi tiết, bao gồm nhiều nhân tố để đạt được một chiến dịch hiệu quả.

Xác định khán thính giả mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Tâm lý tiêu dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Lối sống[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ giữa thị trường mục tiêu (target market) và khán thính giả mục tiêu (target audience)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Philip Kotler; Gary Armstrong (2005). Soạn tại tiểu bang New Jersey (Hoa Kỳ). Marketing: An Introduction (Giới thiệu về marketing). Nhà xuất bản Prentice Hall. tr. -. 
  2. ^ David Ingram. “Target Market vs Target Audience (Thị trường mục tiêu và Khán thính giả mục tiêu)”. 
  • Weinstein, A. (2014). Segmenting B2B technology markets via psychographics: an exploratory study. Journal of Strategic Marketing, 22(3), 257-267. doi: 10.1080/0965254X.2013.876072