Kinh sĩ
Kinh sĩ (tiếng Hy Lạp cổ: κανονικός, đã Latinh hoá: kanonikós) là một chức danh Kitô giáo dành cho các thành viên cộng đoàn sống theo một luật giáo hội nhất định.
Ban đầu, các kinh sĩ sống chung với những giáo sĩ khác trong một nhà xứ. Về sau, các kinh sĩ tách ra và sống riêng trong những nhà xứ nằm bên cạnh hay gần kề nhà thờ chánh tòa hay một nhà thờ lớn khác. Họ sống theo kỷ luật hay tu luật của nhà thờ mình. Lối sống này trở nên phổ biến và được ghi chép lần đầu vào thế kỷ 8. Đến thế kỷ 11, một số nhà thờ buộc các kinh sĩ sống chung với nhau phải từ bỏ các tài sản riêng – một luật do thánh Augustinô tiên phong đề ra. Những kinh sĩ chấp nhận sống chung với nhau theo luật này được gọi là các kinh sĩ thánh Âu Tinh hay các kinh sĩ dòng, còn không thì là kinh sĩ triều.
| Một phần của loạt bài về |
| Phẩm trật trong Giáo hội Công giáo |
|---|
| Chức vụ trong Giáo hội (thứ tự ưu tiên) |
Kinh sĩ triều
[sửa | sửa mã nguồn]Giáo hội Latinh
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Giáo hội Latinh, kinh sĩ luôn là thành viên của một hội kinh sĩ, tức là một nhóm giáo sĩ cấp cao có trách nhiệm trông nom một nhà thờ chánh tòa hay là một nhà thờ hiệp đoàn.
Một trong những chức năng của hội kinh sĩ ở nhà thờ chánh tòa là bầu ra vị đại diện kinh sĩ (sau được gọi là giám quản giáo phận) để cai quản giáo phận trong thời gian giáo phận trống tòa. Sau cuộc tu chính Bộ Giáo luật vào năm 1983, chức năng trên được trao cho hội đồng cố vấn của giáo phận, trừ khi Hội đồng Giám mục quốc gia nhất trí trao phó tất cả các chức năng thuộc về hội đồng cố vấn cho hội kinh sĩ đảm trách, trong đó có chức năng vừa kể.[1]
Giáo hội Anh
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau cuộc Cải cách Kháng nghị, tất cả các kinh sĩ thuộc Giáo hội Anh đều là kinh sĩ dòng (tức không sống theo tu luật thánh Augustinô), tuy vậy vẫn có các kinh sĩ là thành viên của một dòng tu. Đa phần các kinh sĩ là giáo sĩ thừa tác (như linh mục, …, đã lãnh phép truyền chức). Hiện nay, hệ thống các kinh sĩ liên kết cách chặt chẽ với các nhà thờ chánh tòa. Phần các kinh sĩ là thuộc về một hội kinh sĩ triều, do niên trưởng đứng đầu. Vị niên trưởng có trách nhiệm quản lý nhà thờ chánh tòa hay một số nào thờ khác được chỉ định là nhà thờ hiệp đoàn. Hội kinh sĩ cùng vị niên trưởng của hội là cơ quan chính thức có trách nhiệm trông nom nhà thờ chánh tòa và bầu ra giám mục giáo phận.
Kinh sĩ dòng
[sửa | sửa mã nguồn]Kinh sĩ danh dự
[sửa | sửa mã nguồn]Tước hiệu kinh sĩ không phải là một tước hiệu cố định, nếu như một kinh sĩ nào đó không còn giữ một chức vụ có triển vọng thăng tiến, họ sẽ phải lược bỏ chữ viết tắt cho tước hiệu kinh sĩ ở trước tên của mình. Tuy vậy, hiện nay nhiều giám mục vẫn ban tước hiệu kinh sĩ cho các linh mục cấp cao (bao gồm các linh mục quản hạt miền quê, các linh mục phục vụ cách tích cực trong và ngoài giáo xứ, các linh mục có thâm niên nhiều năm phục vụ, …) như một tước hiệu danh dự.
Sau Công đồng chung Vaticano II, Giáo hội Công giáo vẫn cho phép giáo phận tiến cử giáo sĩ vào vị trí kinh sĩ danh dự. Cùng với đó, các linh mục (hay tuyên úy danh dự) của Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta và Dòng Kỵ sĩ Mộ Thánh đều giữ tước hiệu kinh sĩ danh dự; họ được phép sử dụng áo kinh hội dành cho kinh sĩ, bao gồm áo mozetta đen với viền tím đối với kinh sĩ Dòng Chiến sĩ Malta[2] và áo mozzeta trắng với thập tự Jerusalem đỏ đối với kinh sĩ Dòng Kỵ sĩ Mộ Thánh.[3]
Nói chung, kinh sĩ thuộc các Giáo hội Anh giáo có thể được phân thành hai loại, đó là kinh sĩ thường trực (canons residentiary, làm việc thường xuyên tại nhà thờ chánh tòa, số lượng rất ít) và kinh sĩ danh dự (honorary canons, kinh sĩ không có bổn phận trông coi nhà thờ chánh tòa, được lãnh tước hiệu kinh sĩ như một dấu chỉ danh dự, thường có số lượng nhiều). Phẩm phục kinh sĩ bao gồm một áo chùng thâm màu tím trơn hay áo chùng thâm màu khác có đi viền tím. Trong một số giáo phận thuộc Giáo hội Anh, chức danh "prebendary" (n.đ. 'người hưởng lương bổng') được thường được dùng thay cho tước hiệu kinh sĩ để chỉ các giáo sĩ nắm giữ một chức vụ hành chánh trong một nhà thờ chánh tòa. Trên danh nghĩa, các kinh sĩ danh dự thuộc về hội kinh sĩ, tuy nhiên trên thực tế, họ không thường trú tại nhà xứ của hội và không được lãnh khoản thù lao. Họ được phép dùng tước hiệu kinh sĩ và có thể được đặt vào một chức vụ hành chánh trong nhà thờ chính tòa.
Trong các Giáo hội Anh giáo, kinh sĩ cũng có thể là một giáo sĩ giúp việc cho giám mục hay tòa giám mục thay vì là giáo sĩ trông nom nhà thờ chính tòa. Chẳng hạn, kinh sĩ trong Giáo hội Giám nhiệm Hoa Kỳ là các giáo sĩ cấp cao giúp việc cách trực tiếp cho giám mục địa phận (đấng bản quyền).[4]
Kinh sĩ giáo dân
[sửa | sửa mã nguồn]
Các đời quân chủ Pháp kể từ thời Vua Henri IV (trị. 1589–1610) được Giáo tông ban tước hiệu kinh sĩ danh dự duy nhất của Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Laterano và Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.[5][6] Sau khi nền quân chủ Pháp bị bãi bỏ, tước hiệu này tiếp tục được ban cho các đời Tổng thống Cộng hòa Pháp cho đến ngày nay, ngay cả khi vị tổng thống đó không theo đạo Công giáo hoặc thậm chí là theo thuyết vô thần. Tước hiệu kinh sĩ trưởng của Vương cung thánh đường Đức Bà Cả luôn được ban cho vị quân chủ của Tây Ban Nha.
Trước cuộc Cải cách tôn giáo Anh quốc, các đời quân chủ Anh được Giáo tông phong tước hiệu Kinh sĩ Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Điều 3. Bộ Giáo luật 1983. Thành Vatican: Tòa Thánh. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Mozzetta cappellano magistrale malta". www.google.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2018.
- ↑ Là huy hiệu của kinh sĩ theo hai nhà may Gammarelli và Barbiconi
- ↑ "Christian Life in the Diocese". The Episcopal Diocese of New York (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Ente - Santissimo Salvatore e Santi Giovanni Battista ed Evangelista in Laterano" (bằng tiếng Ý). Vicariate of the Diocese of Rome. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "Ente - San Pietro in Vaticano" (bằng tiếng Ý). Vicariate of the Diocese of Rome. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014.