Nguyễn Văn Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĂN MINH
Tiểu sử
Sinh Tháng 2 năm 1929
Sài Gòn, Liên bang Đông Dương
Mất 24 tháng 11, 2006 (77 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Sư đoàn 21 Bộ binh
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Biệt khu Thủ đô[1]
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Quận trưởng
Tỉnh trưởng
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng Thanh tra Q.Lực

Nguyễn Văn Minh (1929-2006) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tại trường Võ bị Liên quân được mở ra ở Nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Trong thời gian tại ngũ, ngoài chuyên môn là chỉ huy các đơn vị Bộ binh, ông cũng được biệt phái qua lĩnh vực Hành chính Quân sự làm Quân trưởng, Tỉnh trưởng. Về sau ông được đảm trách Tư lệnh một Quân đoàn trọng yếu và 2 lần Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, một địa bàn mà trong đó tất cả các cơ quan đầu não của Chính quyền và Quân đội Việt Nam Cộng hòa đều tập trung tại đây. Bấy giờ, giới quân nhân đặt cho ông biệt danh là "Minh đờn" do khả năng trình diễn đàn guitare.[2]

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Minh sinh tháng 2 năm 1929 trong một gia đình thương nhân khá giả tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học tại Sài Gòn. Năm 1948, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau khi rời học đường, ông làm nhạc công trong các ban nhạc, đệm Guitar cho các phòng trà ở Sài Gòn một thời gian trước khi gia nhập Quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1951, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia. Được trúng tuyển theo học khóa 4 Lý Thường Kiệt tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1951. Ngày 1 tháng 12 năm 1951 Nguyễn Văn Minh mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường ông được điều về một đơn vị Bộ binh làm Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam. Năm 1953, Nguyễn Văn Minh được thăng cấp Trung úy, giữ chức vụ Đại đội trưởng. Năm 1954, Nguyễn Văn Minh được thăng cấp Đại úy tại nhiệm.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm cải danh Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa chuyển biên chế sang cơ cấu mới ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 61 Việt Nam. Tháng 11 năm 1956, sau cuộc Trưng cầu Dân ý, Thủ tương Diệm lên làm Tổng thống, ông được thăng cấp Thiếu tá và được giao kiêm chức vụ Quận trưởng quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn. Năm 1959, Nguyễn Văn Minh được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh An Giang sau khi bàn giao quận Đức Hòa lại cho Thiếu tá Đỗ Kiến Nhiễu.[3] Cuối năm 1959, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Quan lộ hạnh thông[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 nổ ra, Nguyễn Văn Minh được các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính chỉ định làm Chỉ huy trưởng Lữ đoàn B Cà Mau thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh sau khi bàn giao tỉnh An Giang lại cho Thiếu tá Châu Văn Tiên.[4] Ngày 4 tháng 11 ông được đặc cách thăng cấp Đại tá.

Trung tuần tháng 3 năm 1965, Nguyễn Văn Minh được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Đặng Văn Quang.[5] Ngày kỷ niệm lần thứ 2 Cách mạng 1 tháng 11 thành công (năm 1965), ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Tháng 1 năm 1968, Nguyễn Văn Minh được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.[6]

Đầu tháng 6 năm 1968, bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, ông được chuyển về Trung ương giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô thay Đại tá Nguyễn Văn Giám[7] (bị thương trong vụ trực thăng Mỹ bắn lầm tại Chợ Lớn vào ngày 2 tháng 6 năm 1968).

Thượng tuần tháng 1 năm 1971, Nguyễn Văn Minh bàn giao Biệt khu Thủ đô lại cho Phó Đô đốc Chung Tấn Cang. Hạ tuần tháng 2 ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III và Quân khu 3 thay thế Trung tướng Đỗ Cao Trí bị tử nạn trực thăng ngày 23 tháng 2 năm 1971 tại Tây Ninh.[8]

Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, Nguyễn Văn Minh được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Ngày 19 tháng 6 năm 1973, ông được cử làm Tổng Chỉ huy cuộc duyệt binh tại Quảng trường Thống nhất nhân kỷ niệm lần thứ 7 ngày Quân lực. Cuối tháng 10 năm cùng năm, ông được chỉ định giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức, hoán chuyển nhiệm vụ với Trung tướng Phạm Quốc Thuần.[9] ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1974, ông được chuyển nhiệm vụ về Bộ Tổng Tham mưu làm Tổng thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

1975 - cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Minh được tái bổ nhiệm làm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô kiêm Tổng trấn Đô Thành Sài Gòn, Chợ Lớn thay thế Phó Đô đốc Chung Tấn Cang. Tuy nhiên, đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông đào nhiệm và di tản khỏi Việt Nam sang Hoa Kỳ.[10].

Sau khi đến Hoa Kỳ, ông định cư tại Thành phố San Diego thuộc Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 24 tháng 11 năm 2006, Nguyễn Văn Minh từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 77 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bà Phan Thị Mỹ Dung - Ông bà có sáu người con gồm 4 trai, 2 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hai lần Tư lệnh Biệt nhu Thủ đô. Lần tứ nhất (1968-1971), lần thứ hai (3/1975)
  2. ^ Trước khi gia nhập Quân đội, tướng Minh là một nhạc công Guitare trong ban nhạc đệm đàn cho các phòng trà ở Sài Gòn (bấy giờ có một thành viên nữa cùng trong ban nhạc với ông, sau này cũng là tướng lĩnh trong Quân lực VNCH, đó là tướng Lê Minh Đảo). Do đó nên ông có biệt danh là ""Minh Đờn", đồng thời cúng để phân biệt với một số tướng lĩnh khác cùng tên như: tướng Dương Văn Minh (biệt danh "Minh lớn"), tướng Trần Văn Minh Lục quân (biệt danh "Minh nhỏ") và tướng Trần Văn Minh Không quân (biệt danh "Minh đen").
  3. ^ Văn Nguyên Dưỡng, Tướng Lê Văn Hưng Và Những Sự Thực Ở Chiến Trường An Lộc Trong Mùa Hè 1972.
  4. ^ Sinh năm 1931 tại Tây Ninh, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Gia Định.
  5. ^ Thiếu tướng Quang được đề bạt lên làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 Chiến thuật
  6. ^ Thời gian ông giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn, Sư đoàn 21 được cố vấn Mỹ nhận xét "do sự lãnh đạo và tài khéo của Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh. Sư đoàn này là một lực lượng chiến đấu dũng mãnh, và được chỉ huy cách đầy đủ."
  7. ^ Tốt nghiệp khóa 1 trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định
  8. ^ Tuy nhiên, trong vai trò Tư lệnh Quân đoàn, ông bị nhận xét là "thái độ lúng túng trong chức vụ chỉ huy cao cấp và trí hiểu biết hạn hẹp về chiến lược"
  9. ^ Tướng Thuần đang là Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức, thay thế tướng Minh giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III).
  10. ^ Phạm Bá Hoa Ngày cuối từ Tổng tham mưu đến Biệt khu thủ đô.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 117-118