Nhôm photphua

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhôm photphua
Sphalerite-unit-cell-depth-fade-3D-balls.png
Nhôm photphua
Tên khác Aluminum phosphide
Aluminium(III) phosphide
Aluminium monophosphide
Phostoxin
Fumitoxin
Nhận dạng
Số CAS 20859-73-8
PubChem 30332
Số EINECS 244-088-0
Số RTECS BD1400000
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Khối lượng mol 57.9552 g/mol
Bề ngoài Tinh thể xám hoặc vàng
Mùi mùi tương tự tỏi
Khối lượng riêng 2.85 g/cm3
Điểm nóng chảy 2.530 °C (2.800 K; 4.590 °F)
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nước phản ứng
BandGap 2.5 eV (indirect)[1]
Chiết suất (nD) 2.75 (IR), ~3 (Vis) [1]
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Nhôm photphua, còn được gọi với cái tên khác là photphua nhôm) là một hợp chất vô cơ có tính độc cao với công thức hóa học AlP được sử dụng làm chất bán dẫn. Chất rắn không màu này thường được bán dưới dạng bột màu xám-xanh-vàng do sự hiện diện của tạp chất phát sinh từ quá trình thủy phânoxy hóa.

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn có độc tính cao, nhôm photphua thường được sử dụng để tự sát.[2] Việc khử trùng cũng gây ra tử vong không chủ ý, chẳng hạn như các ví dụ ở Ả-rập Xê-út[3]Hoa Kỳ.[4][5] Hợp chất này được biết đến với tên gọi "viên gạo" ở Iran, vốn để sử dụng để bảo quản gạo, đã có những sự cố thường xuyên xảy ra do tai nạn hoặc do cố ý. Một chiến dịch do Tổ chức Y khoa Pháp chế Iran chấm dứt sử dụng hợp chất này làm thuốc trừ sâu.[6][7]

Tái chế các thùng chứa nhôm photphua đã qua sử dụng cũng đã gây ra cái chết của ba thành viên trong gia đình tại Alcalá de Guadaira, Tây Ban Nha. Họ đã giữ chúng trong bao nhựa trong phòng tắm. Nguyên nhân tử vong do họ vô tình để cho nhôm photphua phản ứng với nước hoặc để nơi độ ẩm, và khiến hợp chất trở thành phosphine, dẫn đến cái chết của họ trong vài giờ.[8]

Nhiễm độc nhôm photphua được coi là một vấn đề ở quy mô lớn ở tiểu lục địa Ấn Độ.[9][10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Berger, L. I. (1996). Semiconductor Materials. CRC Press. tr. 125. ISBN 0-8493-8912-7. 
  2. ^ “Millionaire's death sparks poison scare”. BBC News. Ngày 10 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ “Fumes kill two Danes in Jeddah”. BBC News. Ngày 24 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ “Family loses 2nd child in suspected pesticide poisoning”. KSL-TV. Ngày 9 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ “4 children dead in Texas in pesticide spraying incident”. CBS News. Ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  6. ^ Shadnia, S.; Sasanian, G.; Allami, P.; Hosseini, A.; Ranjbar, A.; Amini-Shirazi, N.; Abdollahi, M. (2009). “A Retrospective 7-Years Study of Aluminum Phosphide Poisoning in Tehran: Opportunities for Prevention”. Human & Experimental Toxicology 28 (4): 209–213. PMID 19734272. doi:10.1177/0960327108097194. 
  7. ^ Mehrpour, O.; Singh, S. (2010). “Rice Tablet Poisoning: A Major Concern in Iranian Population”. Human & Experimental Toxicology 29 (8): 701–702. PMID 20097728. doi:10.1177/0960327109359643. 
  8. ^ “La familia de Alcalá de Guadaira murió tras inhalar plaguicida”. La Vanguardia. Agencia EFE. Ngày 3 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  9. ^ Siwach, SB; Gupta, A (1995). “The profile of acute poisonings in Harayana-Rohtak Study”. The Journal of the Association of Physicians of India 43 (11): 756–9. PMID 8773034. 
  10. ^ Singh, D; Jit, I; Tyagi, S (1999). “Changing trends in acute poisoning in Chandigarh zone: A 25-year autopsy experience from a tertiary care hospital in northern India”. The American Journal of Forensic Medicine and Pathology 20 (2): 203–10. PMID 10414665. doi:10.1097/00000433-199906000-00019.