Pôlixôm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hình 1- Pôlixôm. * Sơ đồ trên: Tập hợp các ribôxôm cùng ở một mARN. * Đồ thị dưới: nồng độ sucrôza và thành phần R 60S, R 40S.

Pôlixôm là tập hợp các ribôxôm cùng ở một phân tử ARN thông tin (mARN) đang dịch mã trong tế bào.[1][2][3][4] Đây là thuật ngữ trong di truyền học, dịch theo kiểu phiên âm thông thường từ thuật ngữ nước ngoài là polysome, cũng viết là polyribosome (phát âm IPA: \pä-lē-ˈrī-bə-ˌsōm\) và đôi khi là ergasome.[5]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát hiện ra pôlixôm bắt đầu vào khoảng những năm đầu của thập niên 1960.[6] Ban đầu được đặt tên là "ergosome" nhờ các nghiên cứu của Jonathan Warner, Paul M. Knopf,[7] cùng với Alexander Rich.[8] Sau đó, vào năm 1962 thì đổi tên là polyribosome, để mô tả dễ hiểu hơn cấu trúc này gồm nhiều (poly) bào quan là ribôxôm tạo thành một "thể dịch mã" (translatome).[9] Dần dần về sau, thuật ngữ "polyribosome" được gọi tắt là "polysome" như ngày nay thường dùng.

Cấu trúc chung[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ kính hiển vi lực nguyên tử (Atomic-force microscopy, viết tắt là AFM), các nhà nghiên cứu đã thu được hình ảnh của pôlixôm ở cả tế bào sinh vật nhân sơ (vi khuẩn) và tế bào sinh vật nhân thực.

Hình 2: Cấu trúc tổng quát của một pôlixôm.

Cấu trúc này gồm nhiều (2 trở lên) ribôxôm cùng bám dọc trên một chuỗi mARN để tổng hợp cùng một loại prôtêin. Hình 2 trình bày ba sơ đồ:

  • Sơ đồ 1 (trên cùng) mô tả "thể dịch mã" (translatome) gồm 5 ribôxôm cùng đang bám trên sợi mARN, ribôxôm nào ở càng về phía tay phải (tức đầu 3' mARN) thì có "đuôi" càng dài; "đuôi" này chính là chuỗi pôlipeptit đang hình thành.
  • Sơ đồ 2 (giữa) mô tả 5 ribôxôm đã hoàn thành chức năng, tách rời chuỗi khuôn mẫu mARN. Sau đó, mỗi ribôxôm tách đôi, rồi chúng có thể tham gia dịch mã cho phân tử mARN bất kì nào khác (không vẽ trong hình).
  • Sơ đồ 3 (cuối cùng) mô tả các ribôxôm cùng sợi mARN bị phân giải sau một thời gian được tế bào sử dụng.

Các dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình 3: Một kiểu cấu trúc vòng của "thể dịch mã".

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện hai dạng tồn tại phổ biến của pôlixôm là dạng tuyến tính và dạng vòng.[10]

  • Pôlixôm có thể xuất hiện dưới dạng tuyến tính (mạch thẳng) như mô tả ở hình 2.
  • Pôlixôm còn xuất hiện dưới dạng vòng (hoặc dạng bông hoa) như mô tả ở hình 3. Cấu trúc vòng thường xuất hiện ở tế bào nhân thực in vivo, bởi vì thực tế là mARN thường hình vòng thuận lợi cho tái chế ribôx. Mũ ở đầu 5' là 7-mêtyl-arinôzin và đuôi ở đầu 3' là pôli A ở mARN hỗ trợ cho quá trình này.

Ngoài ra, pôlixôm có thể bám màng hoặc tự do lơ lửng trong chất nguyên sinh in vivo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Campbell và cộng sự: "Sinh học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010.
  2. ^ "Sinh học 12" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2019.
  3. ^ “polyribosome”. 
  4. ^ “polyribosome”. 
  5. ^ H. Wang, H. Tiedge. “Dendrites: Localized Translation”. 
  6. ^ Noll H. “The discovery of polyribosomes.”. 
  7. ^ “Paul M. Knopf, PhD”. 
  8. ^ “Biographies of Scientific Objects”. 
  9. ^ “polyribosome”. 
  10. ^ “Polyribosomes”.