149 Medusa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
149 Medusa
Khám phá[1] và chỉ định
Khám phá bởi Henri Joseph Perrotin
Ngày khám phá 21 tháng 9, 1875
Tên chỉ định
Đặt tên theo Medusa
Tên thay thế  
Danh mục tiểu hành tinh Vành đai chính
Đặc trưng quỹ đạo[2]
Kỷ nguyên 31 tháng 12, 2006 (JD 2454100.5)
Cận điểm quỹ đạo 304.026 Gm (2.032 AU)
Viễn điểm quỹ đạo 346.542 Gm (2.316 AU)
Bán trục lớn 325.284 Gm (2.174 AU)
Độ lệch tâm 0.065
Chu kỳ quỹ đạo 1171.128 d (3.21 a)
Tốc độ vũ trụ cấp 1 20.18 km/s
Độ bất thường trung bình 284.523°
Độ nghiêng quỹ đạo 0.937°
Kinh độ của điểm nút lên 159.647°
Acgumen của cận điểm 251.134°
Đặc trưng vật lý
Kích thước 19.7 km
Khối lượng 8.0×1015 kg
Khối lượng riêng trung bình 2.0 g/cm³
Hấp dẫn bề mặt 0.0055 m/s²
Tốc độ vũ trụ cấp 2 xích đạo 0.0104 km/s
Chu kỳ tự quay ? d
Độ nghiêng trục quay
Vĩ độ hoàng đạo cực ?
Kinh độ hoàng đạo cực ?
Suất phản chiếu hình học 0.10
Nhiệt độ ~189 K
Kiểu phổ S
Cấp sao tuyệt đối (H) 10.79

149 Medusa là một tiểu hành tinh đầy đá, có màu sáng, ở vành đai chính. Nó được J. Perrotin phát hiện ngày 21.9.1875 và được đặt theo tên Medusa, một quái vật tóc rắn trong số 3 chị em quái vật Gorgona trong thần thoại Hy Lạp.

Khi được phát hiện, nó là tiểu hành tinh nhỏ nhất được phát hiện từ trước tới nay (dù chưa được biết ở thời điểm đó). Từ đó về sau, nhiều ngàn tiểu hành tinh nhỏ hơn đã được tìm thấy. Nó cũng là tiểu hành tinh gần Mặt Trời nhất được phát hiện trong thời điểm này, phá vỡ kỷ lục lâu đời do tiểu hành tinh 8 Flora nắm giữ, và tiếp tục được coi là tiểu hành tinh gần Mặt Trời nhất cho tới khi các tiểu hành tinh 433 Eros434 Hungaria được phát hiện năm 1898, dẫn tới việc phát hiện ra 2 nhóm tiểu hành tinh ở phần bên trong từ 4:1 Kirkwood gap (chỗ trống Kirkwood) tạo thành ranh giới của vành đai chính.

Tiểu hành tinh này cũng có thời gian quay vòng hơi lâu là 26 giờ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]