Bầu cử liên bang Úc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Úc
Australian Coat of Arms.png

Chính trị và chính phủ
Úc

Chính phủ Liên bang

Hành pháp

Lập pháp

1901 - 1972 - 1974 - 1975 - 1977 - 1980 - 1983 - 1984 - 1987 - 1990 - 1993 - 1996 - 1998 - 2001 - 2004 - 2007

Tư pháp

Chính quyền các bang và lãnh thổ
Hành pháp
Lập pháp

ACT - NSW - NT - Qld. -
SA - Tas. - Vic. - WA


Chính quyền địa phương

Các chính đảng

Ngoại giao

Các nước khác

Australia bầu cơ quan lập pháp - Nghị viện của Khối thịnh vượng chung của Australia - sử dụng các hệ thống bầu cử khác nhau: xem hệ thống bầu cử của Úc. Nghị viện Úc gồm hai viện:

Hạ viện có 150 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ ba năm tại các đơn vị bầu cử một thành viên với tỷ lệ thuận với hệ thống bỏ phiếu biểu quyết thay thế được gọi là bầu cử ưu đãi. Thượng viện có 76 thành viên, được bầu thông qua một hệ thống ưu đãi của đại diện tỷ lệ trong các đơn vị bầu cử 12 thượng nghị sỹ một đơn vị và hai đơn vị bầu cử lãnh thổ với mỗi đơn vị bầu hai thượng nghị sĩ. Cử tri lựa chọn Thượng nghị sĩ lãnh thổ với các nhiệm kỳ không cố định đó phân định bởi các ngày bầu cử Hạ viện. Các thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ kỳ sáu năm trừ trường hợp giải tán đúp, với một nửa số ghế tại thượng viện thay đổi mỗi ba năm. Trong trường hợp của một giải tán đúp, nhiệm kỳ của tất cả các nghị sĩ tại Thượng viện và Hạ viện ghế đại biểu kết thúc ngay lập tức. Úc có hệ thống hai đảng de facto giữa Đảng Lao động Úc và Liên minh của Đảng Tự do Úc Đảng Quốc gia Úc và Đảng Tự do Dân tộc. Rất khó cho đảng nào khác giành chiến vị trí trong Hạ viện, chứ đừng nói đến việc đảng đó một mình hình thức chính quyền.

Thời gian bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù cuộc bầu cử cho Hạ viện thường tương ứng với cuộc bầu cử một nửa Thượng viện, quy tắc về thời điểm diễn ra bầu cử thì khác nhau:

Hạ viện không kéo dài hơn ba năm lần nhóm họp đầu tiên, nhưng có thể giải tán trước thời điểm đó. Sau khi Hạ viện bị giải thể, Hạ viện tiếp theo phải nhóm họp trong vòng 140 ngày tiếp theo. Thời hạn tối đa giữa hai cuộc bầu cử giữa do đó là 3 năm, 140 ngày, và tối thiểu khoảng một tháng. Nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ đại diện các tiểu bang có thời hạn cố định (trừ khi xảy ra tình huống một giải thể kép), và cuộc bầu cử được tổ chức trong thời hạn một năm trước khi hết hạn nhiệm kỳ Thượng viện. Nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ đại diện cho các vùng lãnh thổ không cố định, và được gắn với những ngày của cuộc bầu cử cho Hạ viện. Tron trường hợp Hạ viện bị giải tán sớm, cuộc bầu cử Hạ viện và Thượng viện có thể là không đồng bộ cho đến khi Hạ viện một lần nữa bị giải tán đủ sớm để hay tình huống giải tán kép xảy ra.