Baba-Yaga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Baba-Yaga (tiếng Nga: Баба-Яга / Mụ phù thủy đầm lầy) là một nhân vật trong văn học dân gian các dân tộc Slav.

Minh họa Baba-Yaga của Ivan Bilibin (1911)

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Baba-Yaga được mô tả là một mụ phù thủy có khuôn mặt gớm ghiếc, đặc biệt là cái mũi dài và dáng lưng còng. Nhân vật này ưa sống ở những nơi ẩm thấp như đầm lầy, rừng sâu, hay thậm chí là núi cao khuất bóng cây... Nơi ở là một túp lều chân gà, phương diện di chuyển là cái cối biết baycây chổi thần.

Nguyên mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Baba Yaga vẽ bởi Ivan Bilibin (1902)

Tên của Baba-Yaga gồm có 2 thành tố. Baba trong hầu hết ngôn ngữ Slavơ cổ điển nghĩa là "bà già" hay "bà" (nội, ngoại); nó bắt nguồn từ ngôn từ trẻ em và thường dùng mang ý miệt thị trong tiếng Slavơ hiện đại.[1] Thành tố thứ 2, yaga, bắt nguồn từ các ngôn ngữ nhóm Slavơ: (j)ęga, "Jędza" [tiếng Ba Lan], có thể liên quan đến tiếng Lithuanian ingis ("kẻ lười chảy thây" hoặc "kẻ lười biếng"), tiếng Na Uy cổ ekki ("đau đớn"), và tiếng Anh cổ inca ("hỏi, nghi ngờ; tranh cãi").[2]

Thuật ngữ liên quan đến thành tố thứ hai trong tên, Yaga, xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ Slavo; jeza trong tiếng Serbo-Croatia là rùng mình, jeza trong tiếng Slovenia là giận dữ, jězě trong tiếng Séc cổ là mụ phù thủy, jezinka trong tiếng Séc hiện đại là nữ thần cây, jędza trong tiếng Ba Lan cũng là mụ phù thủy. Thuật ngữ xuất hiện trong nhà thờ cổ Slavo là jęza/jędza nghĩa là "bệnh". Trong các ngôn ngữ Ấn-Âu khác, thành tố iaga có liên kêt với từ engti trong tiếng Lithuania nghĩa là lười nhác lề mề và neungti nghĩa là đau đớn, từ inca trong tiếng Anh cổ nghĩa là lo lắng, đau đớn.[3]

Hình tượng trong văn hóa - nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ anh hùng Vasila bên ngoài căn nhà gỗ của Baba Yaga minh họa bởi Ivan Bilibin (1902)

Baba Yaga (Iaga baba) được nhắc đến lần đầu vào năm 1755 trong cuốn Rossiiskaia grammatika (ngữ pháp tiếng Nga) của Mikhail Lomonosov. Trong sách của Lomonosov, Baba Yaga được đề cập 2 lần trong tiếng Slavơ cổ.

Lần thứ 2 Baba Yaga xuất hiện trong danh sách thần thoại Slavơ và được phỏng đoán có trong thần thoại La Mã. Baba Yaga, tuy vậy, xuất hiện tại phần 3 third section without an equivalence, attesting to perception of her uniqueness even in this first known attestation.[4]

Trong những câu chuyện kể có Baba Yaga xuất hiện, mụ hiện thân với nhiều đặc trưng: cái chổi, túp lều xoay trên đôi chân gà, chiếc cối. Baba Yaga làm xuất hiện tính ngữ "chân toàn xương" (Baba Iaga kostianaia noga), và khi ở trong nhà của mình, mụ thường ở bên bếp lò. Baba Yaga có cái mũi chúc xuống sàn nhà. Đặc biệt, một vài người kể chuyện còn cố ý nhấn mạnh về sự kinh tởm của cái mũi, bộ ngực, mông và chỗ kín của mụ.[5]

Trong một vài câu chuyện về bộ ba Baba Yagas, còn có những người chị em gái của mụ, chung nhau một cái tên. Ví dụ: trong phiên bản "The Maiden Tsar" tuyển chọn thế kỉ 19 bởi Aleksandr Afanasyev thì Ivan, con trai của một thương gia đẹp trai nói đến 1 trong 3 mụ Baba Yaga trong truyện:

Chàng đi lên phía trước... và cuối cùng đến một căn lều nhỏ; căn lều nằm trong một cánh đồng, xoay trên đôi chân gà. Chàng đi vào và thấy Baba Yaga với đôi chân xương xẩu. "Thật là xấu hổ", mụ nói, "chưa bao giờ có mùi vị Nga ở đây, mà tự nó dẫn xác đến. Mi tự tới đây hay bị buộc phải tới hả thằng nhóc?" "Thường thì do tôi tự tới, nhưng lần thứ 2 thì tôi bị bắt phải tới! Baba Yaga, bà có biết vương quốc thứ 10 ở đâu không?" "Không, ta không biết", mụ nói, và bảo chàng tới gặp người em gái thứ 2 của mình, người đó có thể biết.[6] Ivan bước vào trong căn lều nhỏ giống như căn lều lúc trước. Mụ Baba Yaga lại nói như vậy với chàng và hỏi lại câu hỏi như thế, còn Ivan hỏi lại với câu hỏi như thế. Mụ Baba Yaga thứ hai lại chỉ cho chàng đến chỗ người em gái thứ 3 và dặn nếu bà ta nổi giận với chàng và muốn ăn thịt chàng, hãy lấy 3 sợi tóc từ bà ta và hỏi xin phép thổi chúng đi. Thổi cái thứ nhất nhẹ nhàng, cái thứ 2 mạnh hơn và cái thứ 3 mạnh nữa". Ivan cảm ơn mụ và tiếp tục lên đường.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Max Vasmer, Etimologicheskii slovar' russkogo yazyka, Vol. I (Moscow: Progress, 1964), p. 99.
  2. ^ Max Vasmer, Etimologicheskii slovar' russkogo yazyka, Vol. IV (Moscow: Progress, 1973), p. 542.
  3. ^ Johns (2004:10).
  4. ^ Johns (2004), p. 12.
  5. ^ Johns (1998), p. 21.
  6. ^ a ă Guterman (1973), p. 231.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]