Bolero

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bolero
Khởi nguồn từ văn hóa Tây Ban Nha, Cuba
Thể loại hỗn hợp phong cách
Bachata
Sân khấu vùng
Tây Ban Nha, Cuba và phần còn lại của Mỹ Latinh

Bolero (tiếng Tây Ban Nha: bolero) là một thể điệu âm nhạc Mỹ Latinh có nhịp độ chậm đi kèm vũ điệu. Có hai thể bolero là bolero Tây Ban Nha và bolero Cuba, cả hai đều quan trọng và mỗi loại lại có nguồn gốc khác biệt nhau.[1]

Bức họa Marcelle Lender (1895) của Lautrec miêu tả cảnh vũ công nhảy điệu bolero.

Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Nhịp điệu bolero[2]

Vũ điệu bolero là điệu nhảy nhịp 3/4 bắt nguồn từ Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 18, là một sự kết hợp giữa contradanzasevillana.[3] Vũ công Sebastiano Carezo được cho là người sáng tạo ra điệu nhảy này vào năm 1780.[4] Điệu này có thể nhảy đơn hoặc nhảy cặp. Nhịp độ tương đối chậm, biểu diễn kèm với ca sĩ hát và các cây đàn castanet, ghita; phần lời ca gồm năm đến bảy âm tiết mỗi dòng và mỗi đoạn nhạc gồm bốn dòng. Nhạc này được viết theo nhịp ba, thường có một liên ba ở phách thứ hai của mỗi nhịp.

Cuba[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Cuba, bolero có lẽ là sự tổng hòa nhạc và lời vĩ đại đầu tiên của nền âm nhạc Cuba mà đã giành được sự công nhận ở tầm quốc tế.[5] Với nhịp 3/4, vũ điệu bolero Cuba đã lan truyền ra nhiều quốc gia khác.

Ban đầu bolero Cuba bắt nguồn từ Santiago de Cuba vào 1/4 cuối của thế kỷ 19,[6] không liên quan đến nhạc bolero Tây Ban Nha.[7] Vào thế kỷ 19, tại Santiago de Cuba dần phát triển một nhóm những nhạc sĩ lưu động kiếm sống bằng việc ca hát và chơi ghita.

Pepe Sanchez được coi là cha đẻ của phong cách trova và là người sáng tạp bolero Cuba. Tuy không qua trường lớp đào tạo song nhờ tài năng thiêm bẩm mà ông có thể sáng tác trong óc, không cần viết ra. Tuy nhiên cũng vì thế mà đa số ca khúc của ông đều bị thất lạc, chỉ có khoảng hai mươi bài còn lưu truyền nhờ công chép lại của bạn bè và môn đồ. Ông là tấm gương và là thầy dạy của những nghệ sĩ trova lớn sau này.[8][9]

Bolero Cuba đến México và những nơi chốn khác của Mỹ Latinh sau khi hình thành và trở thành một phần trong vốn nhạc của các nơi này. Một số nhà sáng tác bolero hàng đầu xuất thân từ các quốc gia và lãnh thổ láng giềng của Cuba như Rafael Hernández của Puerto Rico, Agustín Lara của México. Một số nhà sáng tác bolero người Cuba thì được liệt kê vào danh sách những nhạc sĩ phong cách trova.[10][11][12][13] Năm 1991, ca sĩ México Luis Miguel ra album Romance gồm các bài ca bolero tuyển chọn. Thành công của album đã làm sống lại niềm yêu thích bolero trong thập niên 1990.[14][15]

Bolero hỗn hợp[sửa | sửa mã nguồn]

José Loyola bình luận rằng các phong cách bolero hỗn hợp - kết hợp bolero với các nhịp điệu Cuba khác - là một trong những lý do khiến bolero phát triển thật phong phú trong một khoảng thời gian dài như vậy. Ông viết: "Sự chỉnh sửa và kết hợp bolero với các thể loại nhạc khiêu vũ đại chúng khác đã đóng góp vào sự phát triển của bolero, vào sự bền vững và trường tồn của nó. [La adaptación y fusión del bolero con otros géneros de la música popular bailable ha contribuido al desarrollo del mismo, y a su vigencia y contemporaneidad.]"[16]

Sự chỉnh sửa chủ yếu là bỏ bớt các yếu tố định dạng hay phối nhạc một cách có giới hạn và thêm vào các nhấn lệch (để tạo âm thanh mang tính Cuba lai Phi nhiều hơn). Các ví dụ là:

  • Bolero trong thể loại danzón (không lời), nếu bổ sung lời thì danzón trở thành danzonete.
  • Bolero-son: loại nhạc khiêu vũ ưa thích trong một khoảng thời gian dài ở Cuba, được nước ngoài biết đến qua cái tên thiếu chính xác là rumba.
  • Bolero-mambo: có phần lời ca chậm và đẹp, được biểu diễn trên phần phối khí tinh tế của dàn nhạc lớn theo phong cách mambo.
  • Bolero-cha: nhiều lời nhạc của các bài cha-cha-cha là đến từ bolero.

Nhạc phòng nhảy[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng nhảy quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một phiên bản của bolero Cuba được dùng để khiêu vũ khắp các sàn nhảy Latinh trên thế giới (được giám sát bởi Hội đồng Khiêu vũ Thế giới) dưới tên gọi sai lầm là rumba. Điều này bắt đầu từ đầu thập niên 1930 khi người ta cần có một thuật ngữ chung đơn giản để tiếp thị âm nhạc Cuba đến với công chung vốn chưa quen với các thuật ngữ âm nhạc của nước này. Bản nhạc "El manisero" là một ví dụ. Trên bìa đĩa nhạc này ghi rằng nó theo thể loại "rhumba-fox trot" nhưng thực ra nó là một bản nhạc theo nhịp điệu son cubano với phong cách pregón, vì thế đúng ra phải được gọi là son-pregón. Sau đĩa này, thuật ngữ rumba được dùng như "nhãn hiệu" chung cho âm nhạc Cuba vì dễ đọc, dễ nhớ.

Ở Cuba, bolero thường được viết theo nhịp 2/4, có khi là 4/4. Nhịp độ nhạc dành cho khiêu vũ thường khoảng 120 phách/phút. Nhạc có nhịp điệu Cuba khoan thai giống với nhạc son cubano, vì thế nếu gọi loại nhạc này là bolero-son thì đúng đắn hơn. Tương tự các vũ điệu Cuba khác, vũ điệu bolero gồm ba bước chân trong bốn phách, bước đầu tiên rơi vào phách thứ hai chứ không phải phách thứ nhất. Phần chậm (rơi vào phách 4 và phách 1) được diễn tả bằng động tác chuyển động hông trên chân trụ mà không có foot-flick.[17]

American Rhythm[sửa | sửa mã nguồn]

American Rhythm là một thể loại nhảy trong các cuộc thi khiêu vũ thi đấu theo American Style. American Style là phong cách khiêu vũ phòng nhảy được phát triển ở Mỹ, đối lập với International Style. American Rhythm gần giống với thể loại Latin của International Style.

Một trong các tiểu thể loại của American RhythmBolero. Bước đầu tiên rơi vào phách thứ nhất, giữ nguyên trong phách thứ hai và thêm hai bước nữa trong cách phách thứ ba và thứ tư (cách nhảy này gọi là "chậm-nhanh-nhanh"). Trong các bài khiêu vũ thi đấu, nhạc nền theo nhịp 4/4, nhịp độ dao động trong khoảng từ 96 đến 104 phách/phút. Bolero này rất khác biệt so với các tiểu thể loại khác của American Rhythm bởi vì nó không những đòi hỏi phải có các chuyển động Cuba (Cuban motion) mà còn phải có các động tác lên và xuống (rises and falls) của valse và động tác đối thân (contra body movement).[18] Nhạc dành cho phong cách nhảy này không cần phải là nhạc Latinh hay nhạc có nguồn gốc Latinh. Xem thêm danh sách các bài nhạc dành cho thi đấu bolero American Rhythm tại đây.

Trong nhạc nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Có rất nhiều tác phẩm được gọi là bolero trong nhạc nghệ thuật (ở mặt nghĩa nào đó là nhạc cổ điển) không phù hợp để xếp vào các thể loại đã nói ở phần trên.

  • Boléro của Maurice Ravel là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, được viết dưới dạng bản phổ dành cho ba lê nhưng hiện nay thường được biểu diễn ở các buổi hòa nhạc. Nguyên thủy nó được gọi tên là Fandango nhưng sở hữu những điểm tương đồng về mặt nhịp điệu với thể loại khiêu vũ bolero của Tây Ban Nha ở chỗ theo nhịp 3/4 và có một liên ba ở phách thứ hai của mỗi ô nhịp.
  • Chopin viết bolero dành cho piano solo (Op. 19), tuy nhiên nhịp điệu của tác phẩm này giống với polonaise hơn. Chopin là bạn thân của Pauline Viardot - con gái của giọng nam cao Tây Ban Nha Manuel García (người đã mang bolero đến Paris, Pháp).
  • Debussy viết một bản bolero trong La Soirée dans Grenada
  • Bizet viết một bản bolero trong Carmen
  • Saint-Saëns viết một bản bolero có nhan đề El desdichado dành cho hai người hát cùng dàn nhạc
  • Set đầu tiên của Spanish Dances (Op. 12) của Moszkowski kết thúc bằng một bản bolero.
  • Lefébure-Wély viết Boléro de Concert dành cho organ.
  • Khúc bolero trích từ operetta Chilpéric của Hervé đã được họa sĩ Toulouse-Lautrec khắc họa trong bức tranh Marcelle Lender (1895).
  • Friedrich Baumfelder viết Premier Bolero, Op. 317 dành cho dương cầm.
  • Charles-Auguste de Beriot viết một bản bolero trong concerto nổi tiếng "Scene de Ballet" dành cho vĩ cầm và dương cầm (hoặc dành cho dàn nhạc).

Trong một số tác phẩm bolero của nhạc nghệ thuật, cái gốc không phải nằm ở bolero mà nằm ở habanera (tiền thân Cuba của tango; là một loại nhạc được yêu thích vào giữa thế kỷ 19, thường có mặt trong các vở opera Pháp và zarzuela Tây Ban Nha vào thế kỷ 19 và 20).[19]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Carpentier, Alejo 2001 [1945]. Music in Cuba [cần số trang]
  2. ^ Blatter, Alfred 2007. Revisiting Music Theory: A Guide to the Practice. tr. 28 ISBN 0-415-97440-2.
  3. ^ Morales, tr. 120
  4. ^ Journal of the American Musicological Society 24, (mùa thu, 1971), tr. 480
  5. ^ Acosta, Leonardo 1987. From the drum to the synthesiser. La Habana. tr. 121
  6. ^ Cristobal Diaz offers 1885: "el bolero, creado aproximadamente para 1885". Diaz Ayala, Cristobal 1999. Cuando sali de la Habana 1898-1997: cien anos de musica cubana por el mundo. Ấn bản 3, Cubanacan, San Juan P.R. tr. 24-25
  7. ^ Carpentier, Alejo 2001 [1945]. Music in Cuba. Minneapolis[cần số trang]
  8. ^ Orovio, Helio 2004. Cuban music from A to Z. tr. 195.
  9. ^ Orovio, Helio 1995. El bolero latino. La Habana.
  10. ^ Loyola Fernandez, Jose 1996. El ritmo en bolero: el bolero en la musica bailable cubana. Huracan, Rio Piedras P.R.[cần số trang]
  11. ^ Orovio, Helio 1992. 300 boleros de oro. Mexico City.[cần số trang]
  12. ^ Restrepo Duque, Hernán 1992. Lo que cantan los boleros. Columbia.[cần số trang]
  13. ^ Rico Salazar, Jaime 1999. Cien años de boleros: su historia, sus compositores, sus mejores interpretes y 700 boleros inolvidables. Ấn bản 5, Bogotá.[cần số trang]
  14. ^ Morales, Ed (2003). The Latin Beat: The Rhythms and Roots of Latin Music from Bossa Nova to Salsa and Beyond. Da Capo Press. ISBN 978-0-306-81018-3. 
  15. ^ Bazán, Rodrigo (2001). Y Si Vivo Cien Años... Antología del Bolero en México. Fondo de Cultura Económica. ISBN 968-16-6307-1.  [cần số trang]
  16. ^ Loyola Fernandez, José 1996. El ritmo en bolero: el bolero en la musica bailable cubana. Huracan, Rio Piedras P.R. tr. 249
  17. ^ Lavelle, Doris 1983. Latin & American dances. Ấn bản 3. Black, London. [cần số trang]
  18. ^ W.D. Eng, Inc. dba Dance Vision 2003. American Style Rhythm Bronze Manual, Las Vegas, Nevada.[cần số trang]
  19. ^ Loyola Fernández, Jose 1997. En ritmo de bolero: el bolero en la musica bailable cubana. Huracan, Rio Piedras P.R. tr. 29

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]