Frédéric Chopin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chopin, 1835

Frédéric François Chopin [1](phiên âm tiếng Việt: Phơ-rê-đê-rích Phơ-răng-xoa Sô-panh; IPA: [fʁedeʁik fʁɑ̃swa ʃɔpɛ̃]; 18101849) là một nhà soạn nhạc người Ba Lan.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Frédéric François Chopin của họa sĩ Eugène Delacroix năm 1838. Mới đầu bức hình này là một nửa của chân dung đúp có cả ông Chopin và George Sand.

Ông sinh ngày 1 tháng 3[2] năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứSi giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warszawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.

Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.

Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lí thuyết âm nhạcsáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warszawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại học Warsawa. Tuy nhiên, Chopin đã không theo học lớp piano. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Chopin, Józef Elsner - nhà soạn nhạc và hiệu trưởng của trường - đã cho phép Chopin tập trung vào piano nhưng vẫn buộc ông học các môn lí thuyết. Chopin, vốn có khả năng trời phú về sáng tác âm nhạc, đã học được ở trường sự kỉ luật và chính xác trong kết cấu tác phẩm, cũng như hiểu được ý nghĩa và logic của từng nốt nhạc. Đây là thời gian ra đời của những tác phẩm có tầm cỡ đầu tiên của Chopin, ví dụ như bản Sonata cung Đô thứ, những khúc biến tấu opus số 2 dựa trên một chủ đề trong vở Don Giovanni của Mozart, bản Rondo á la Krakowiak op. 14 và bản tam tấu cung Sol thứ, opus 8 cho piano, violincello. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: "Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc".

Mikołaj Chopin,vẽ bởi Mieroszewski, 1829

Khi trở về Warszawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứMi thứ. Bản Concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Italy.

Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng PhápFrédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt. Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39 tuổi.

Khi Ba Lan bị phát xít xâm chiếm vào năm 1939, những người yêu nước đã tìm cách cất giấu trái tim của Chopin để không bị lọt vào bàn tay nhơ nhuốc của chúng. Mùa thu năm 1949, trái tim được bí mật mang về Ba Lan, trong một chiếc hộp gỗ sồi. Ngày nay trái tim được đặt sau một phiến đá hoa cương tại nhà thờ Holy Cross,Warsaw.

Sự nghiệp sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Polonaise[sửa | sửa mã nguồn]

18 bản polonaise:

Mazurka[sửa | sửa mã nguồn]

  • 4 Mazurka Op. 6, các cung: fa thăng thứ, đô thăng thứ, mi trưởng, mi giáng thứ
  • 5 Mazurka Op. 7, các cung: si giáng trưởng, la thứ, fa thứ, la giáng trưởng, đô trưởng
  • 4 Mazurka Op. 17, các cung: si giáng trưởng, mi thứ, la giáng trưởng, la thứ
  • 4 Mazurka Op. 24, các cung: sol thứ, đô trưởng, la giáng trưởng, si thứ
  • 4 Mazurka Op. 30, các cung: đô thứ, si thứ, re giáng trưởng, đô thăng thứ
  • 4 Mazurka Op. 33, các cung: sol thăng thứ, đô trưởng, re trưởng, si thứ
  • 4 Mazurka Op. 41, các cung: mi thứ, si trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ
  • 3 Mazurka Op. 50, các cung: sol trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ
  • 3 Mazurka op. 56, các cung: si trưởng, đô trưởng, đô thứ
  • 3 Mazurka op. 59, các cung: la thứ, la giáng trưởng, fa thăng thứ
  • 3 Mazurka op. 63, các cung: si trưởng, fa thứ, đô thăng thứ
  • 4 Mazurka op. 67, các cung: sol trưởng, sol thứ, đô trưởng, la thứ
  • 4 Mazurka op. 68, các cung: đô trưởng, la thứ, fa trưởng, fa thứ
  • Mazurka cung Si giáng trưởng
  • Mazurka cung Sol trưởng
  • Mazurka cung Re trưởng
  • Mazurka cung Đô trưởng
  • Mazurka cung Si giáng trưởng

Waltz[sửa | sửa mã nguồn]

17 bản waltz:

  1. Grande Valse Brillante cung Mi giáng trưởng Op. 18
  2. Grande Valse Brillante cung La giáng trưởng Op. 34 số 1
  3. Grande Valse Brillante cung La thứ Op. 34 số 2
  4. Grande Valse Brillante cung Fa trưởng Op. 34 số 3
  5. Grande Valse cung La giáng trưởng Op. 42
  6. Waltz cung Re giáng trưởng Op. 64 số 1
  7. Waltz cung Đồ thăng thứ Op. 64 số 2
  8. Waltz cung La giáng trưởng Op. 64 số 3
  9. Waltz cung La giáng trưởng Op. 69 số 1
  10. Waltz cung Si thứ Op. 69 số 2
  11. Waltz cung Sol giáng trưởng Op. 70 số 1
  12. Waltz cung Fa thứ Op. 70 số 2
  13. Waltz cung Re giáng trưởng Op. 70 số 3
  14. Waltz cung Mi thứ Op. posth.
  15. Waltz cung Mi trưởng Op. posth.
  16. Waltz cung La giáng trưởng Op. posth.
  17. Waltz cung Mi giáng trưởng Op. posth.

Rondo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Rondo cung Đô thứ Op. 1
  2. Rondo a la Mazur cung Fa trưởng Op. 5
  3. Rondo cung Mi giáng trưởng Op. 16
  4. Rondo cung Đô trưởng cho song piano Op. 73
  5. Rondo cung Đô trưởng Op. posth.

Những khúc biến tấu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Những khúc biến tấu cung Mi trưởng trên chủ đề bài dân ca Đức Der Schweitzerbub Op. posth.
  2. Những khúc biến tấu cung Re trưởng trên chủ đề các bài hát của T. Moore Op. posth (bốn tay)
  3. Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản La ci darem la mano từ vở Don Juan của Mozart

Op. 2 (cho piano và dàn nhạc)

  1. Những khúc biến tấu cung La trưởng
  2. Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản rondo Je vends des scapulaires từ vở opera Ludovic của Hérold và Halévy
  3. Những khúc biến tấu cung Mi trưởng từ tập Hexameron trên chủ đề hành khúc từ vở opera Puritans của Bellini

Étude[sửa | sửa mã nguồn]

  1. 12 Etude Op. 10 các cung: đô trưởng, la thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, sol giáng trưởng, mi giáng thứ, đô trưởng, fa trưởng, fa thứ, la giáng trưởng, mi giáng trưởng, đô thứ
  2. 12 Etude Op. 25 các cung: la giáng trưởng, fa thứ, fa trưởng, la thứ, mi thứ, sol thăng thứ, đô thăng thứ, re giáng trưởng, sol giáng trưởng, si thứ, la thứ, đô thứ
  3. Trois Nouvelles Etudes các cung: fa thứ, la giáng trưởng, re giáng trưởng

Prelude[sửa | sửa mã nguồn]

  1. 24 Prelude Op. 28 các cung: đô trưởng, la thứ, sol trưởng, mi thứ, re trưởng, si thứ, la trưởng, fa thăng thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, si trưởng, sol thăng thứ, fa thăng trưởng, mi giáng thứ, re giáng trưởng, si giáng thứ, la giáng trưởng, fa thứ, mi giáng trưởng, đô thứ, si giáng trưởng, sol thứ, fa trưởng, re thứ.
  2. Prelude cung Đô thăng thứ Op. 45
  3. Prelude cung La giáng trưởng Op. posth

Impromptu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Impromptu cung La giáng trưởng Op. 29
  2. Impromptu cung Fa thăng trưởng Op. 36
  3. Impromptu cung Sol giáng trưởng Op. 51
  4. Impromptu-Fantasie cung Đô thăng thứ Op. posth. 66

Nocturne (dạ khúc)[sửa | sửa mã nguồn]

  1. 3 Nocturne Op. 9 các cung: si giáng thứ, mi giáng trưởng, si trưởng
  2. 3 Nocturne Op.15 các cung: fa trưởng, fa thăng trưởng, son thứ
  3. 2 Nocturne Op.27 các cung: đô thăng thứ, re giáng trưởng
  4. 2 Nocturne Op.32 các cung: si trưởng, la giáng trưởng
  5. 2 Nocturne Op.37 các cung: sonl thứ, sol trưởng
  6. 2 Nocturne Op.48 các cung: đô thứ, fa thăng thứ
  7. 2 Nocturne Op.55 các cung: fa thứ, mi giáng trưởng
  8. 2 Nocturne Op.62 các cung: si trưởng, mi trưởng
  9. Nocturne cung Mi thứ Op.72 số 1
  10. Nocturne cung Đô thăng thứ Op.posth.
  11. Nocturne cung Đô thứ Op.posth.

Ballade[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ballade cung Sol thứ Op. 23
  2. Ballade cung Fa trưởng Op. 38
  3. Ballade cung La giáng trưởng Op. 47
  4. Ballade cung Fa thứ Op. 52

Scherzo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Scherzo cung Si thứ Op. 20
  2. Scherzo cung Si giáng thứ Op. 31
  3. Scherzo cung Đô thăng thứ Op. 39
  4. Scherzo cung Mi trưởng Op. 54

Sonata[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Sonata cung Đô thứ Op. 4
  2. Sonata cung Si giáng thứ Op. 35
  3. Sonata cung Si thứ Op. 58
  4. Sonata cung Sol thứ Op. 65 cho piano và cello

Các nhạc phẩm cho piano và dàn nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng Op. 2 trên chủ điểm La ci darem la mano từ vở opera Don Juan của Mozart

  1. Concerto số 1 cung Mi thứ Op. 11
  2. Fantasy on Polish Airs cung La trưởng Op. 13
  3. Rondo a la krakowiak cung Fa thứ Op. 14
  4. Concerto số 2 cung fa thứ Op. 21
  5. Andante spianato và Grand Polonaise cung Mi giáng trưởng Op. 22

Các bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Jakież kwiaty, jakie wianki Op. posth.
  2. Życzenie (A Young Girl's Wish) Op. 74 số 1
  3. Gdzie lubi (A Girl's Desire) Op. 74 số 5
  4. Czary (Witchcraft) Op. posth.
  5. Hulanka (A Drinking Song) Op. 74 số 4
  6. Precz z moich oczu (Out of My Sight) Op. 74 số 6
  7. Poseł (The Messenger) Op. 74 số 7
  8. Wojak (The Warrior) Op. 74 số 10
  9. Piosnka litewska (A Lithuanian Song) Op. 74 số 16
  10. Smutna rzeka (Sad River) Op. 74 số 3
  11. Narzeczony (The Betrothed) Op. 74 số 15
  12. Leci liście z drzewa (Leaves are Falling) Op.74 số 17
  13. Pierścień (The Ring) Op.74 số 14
  14. Moja pieszczotka (My Sweetheart) Op. 74 số 12
  15. Wiosna (Spring Song) Op. 74 số 2
  16. Śliczny chłopiec (The Handsome Lad) Op. 74 số 8
  17. Dwojaki koniec (Death's Divisions) Op. 74 số 11
  18. Nie ma, czego trzeba (Faded and Vanished) Op. 74 số 13
  19. Z gór, gdzie dźwigali Op. 74 số 9

Bản mẫu:Books-inline

Các tác phẩm khác[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trio cung Sol thứ Op. 8 cho piano, violoncello
  2. Bolero cung La thứ Op. 19
  3. Tarantella cung La giáng trưởng Op. 43
  4. Allegro de Concert cung La trưởng Op. 46
  5. Fantasy cung Fa thứ Op. 49
  6. Berceuse cung Re giáng trưởng Op. 57
  7. Barcarolle cung Fa thăng trưởng Op. 60
  8. Funeral March cung Đô thứ Op. posth.
  9. Trois Ecossaises Op. 72 các cung: Re trưởng, Sol trưởng, Re giáng trưởng
  10. Allegretto Op. posth.
  11. Grand duo concertant cung Mi trưởng Op. posth. trên chủ đề Meyerbeer's Robert Le Diable cung Mi trưởng cho piano và cello
  12. Cantabile cung Si giáng trưởng Op. posth.
  13. Presto con leggierezza cung La giáng trưởng Op. posth.
  14. Andantino cung Sol thứ Op. posth.
  15. Sostenuto cung Mi giáng trưởng Op. posth.
  16. Moderato cung Mi trưởng Op. posth.
  17. Largo cung Mi giáng trưởng Op. posth.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The surname is pronounced [ˈʂɔpɛn̪] (with alternative, phonetic spelling Szopen) by Poles; pronounced [ˈʂɔpɛn]); [ʃɔˈpɛ̃] in French; and usually pronounced /ˈʃpæn/ in English.
  2. ^ Theo giấy rửa tội còn giữ tại nhà thờ nơi ông sinh ra thì ông sinh ngày 22 tháng 2, nhưng gia đình và chính Chopin thường khẳng định Chopin sinh ngày 1 tháng 3, và ngày 1 tháng 3 cũng được chọn là ngày sinh nhật Chopin ở Ba Lan và nhiều nước trên thế giới.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]