Cá dây Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá dây Nhật Bản
Thời điểm hóa thạch: Oligocene to Present[1]
Zeus.faber.jpg
Cá dây Nhật Bản
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Zeiformes
Họ (familia) Zeidae
Chi (genus) Zeus
Loài (species) Z. faber
Danh pháp hai phần
Zeus faber
Linnaeus, 1758

Cá dây Nhật Bản hay cá Pierre (danh pháp hai phần: Zeus faber) là một loài cá thuộc chi Zeus. Nó là loài cá biển ăn được, sinh sống ở tầng đáy ven biển và có một cơ thể màu vàng ô liu với một điểm đen lớn, và gai dài trên vây lưng. Các điểm đen được sử dụng để thoáng hiện như "mắt quỷ" đe dọa, nếu nó gặp nguy hiểm. Mắt trước của nó lớn với tầm nhìn hai tiêu điểm và khả năng nhìn sâu[2]

Chúng ăn nhiều loài cá như cá mòi. Thỉnh thoảng chúng ăn mực. Kẻ thù của chúng là cá mập.

Loài cá này sinh sống ven biển, được tìm thấy trên bờ biển của châu Phi, Đông Nam Á, New Zealand, Úc, bờ biển của Nhật Bản, và trên bờ biển của Châu Âu. Chúng sống gần đáy biển, sống ở độ sâu từ 5 mét (15 ft) đến 360 mét (1200 ft). Chúng thường đơn độc.

Sau khi 3 hoặc 4 năm tuổi, chúng thường sẵn sàng sinh sản. Mùa sinh sản diễn ra vào khoảng cuối của mùa đông, chúng phóng tinh trùng và trứng vào nước để thụ tinh. Tuổi thọ của chúng khoảng 12 năm trong tự nhiên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sepkoski, Jack (2002). “A compendium of fossil marine animal genera”. Bulletins of American Paleontology 364: p.560. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ New Zealand Coastal Fish: John Dory.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Wikisource-logo.svg
Wikisource có văn bản gốc từ 1911 Encyclopædia Britannica về: