Cá lóc mắt bò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá lóc mắt bò
Channa marulius.jpg
Bullseye snakehead protecting young
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

(không phân hạng) Osteoglossocephalai
(không phân hạng) Clupeocephala
(không phân hạng) Euteleosteomorpha
(không phân hạng) Neoteleostei
(không phân hạng) Eurypterygia
(không phân hạng) Ctenosquamata
(không phân hạng) Acanthomorphata
(không phân hạng) Euacanthomorphacea
(không phân hạng) Percomorphaceae
(không phân hạng) Carangimorpharia
(không phân hạng) Anabantomorphariae
Bộ (ordo) Anabantiformes
Phân bộ (subordo) Channoidei
Họ (familia) Channidae
Chi (genus) Channa
Loài (species) C. marulius
Danh pháp hai phần
Channa marulius
(F. Hamilton, 1822)

Cá lóc mắt bò hoặc cá lóc khổng lồ (tên khoa học: Channa marulius) là một cá lóc có nguồn gốc từ Nam Á, nhưng đã di thực với Hoa Kỳ. Ở Nam Ấn Độ, nó thường được tìm thấy trong hồ chứa. Nó được tìm thấy tại đập Pechpparai, Chittar, Manimuthar, Bhvani và Mettur của bang Tamil NaduThenmalai, đập Neyyar và Idukki của Kerala. Tại Assam nó được gọi theo tên địa phương là xaal. Nó là loài phát triển nhanh hơn hầu hết các loài khác thuộc cùng chi. Nó là một loài ăn thịt. Nó được mua bán trực tiếp và lấy giá cao trên thị trường. Thịt có giá trị dinh dưỡng cao và thịt của nó được cho là có tác dụng chữa lành vết thương và các thuộc tính thu hồi nhiệt. Nó rất thích hợp cho nuôi thâm canh do thói quen thở không khí của nó.

Nó là một loài xâm lấn tại Hoa Kỳ.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Channa marulius. Invasive Species Specialist Group. 24 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]