Cá tuyết vùng cực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá tuyết vùng cực
Boreogadus saida.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass) Teleostei
Liên bộ (superordo) Paracanthopterygii
Bộ (ordo) Gadiformes
Họ (familia) Gadidae
Phân họ (subfamilia) Gadinae
Chi (genus) Boreogadus
Loài (species) B. saida
Danh pháp hai phần
Boreogadus saida
Lepechin, 1774

Cá tuyết vùng cực hay cá tuyết Bắc Cực, (danh pháp hai phần: Boreogadus saida), là một loài cá trong họ Cá tuyết (Gadidae), có quan hệ họ hàng với cá tuyết thật sự (chi Gadus). Lưu ý rằng một loài cá khác cũng có tên gọi chung là cá tuyết Bắc Cực với danh pháp Arctogadus glacialis.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá tuyết vùng cực có đầu to, mắt to với đường kính còn lớn hơn cả chiều rộng của cuống đuôi, thân hình mảnh dẻ về phía sau, đuôi xẻ thùy sâu, miệng lồi ra và có các sợi râu nhỏ trên cằm. Nó có màu sắc đơn giản với các đốm ánh nâu và thân hình màu bạc. Nó có thể dài tới 30 cm. Cá tuyết vùng cực được tìm thấy xa hơn cả về phía bắc so với bất kỳ loài cá nào khác (vượt qua vĩ tuyến 84° vĩ bắc) với sự phân bổ trải dài trong các biển thuộc Bắc cực của miền bắc Nga, Alaska, CanadaGreenland.

Loài cá này nói chung hay được tìm thấy ở các vùng nước bề mặt, nhưng cũng có thể sống tại độ sâu tới trên 900 m. Cá tuyết vùng cực ăn các loại sinh vật phù du hay tôm tép tại các vùng nước bề mặt (không giống như họ hàng của nó là cá tuyết Đại Tây Dương kiếm ăn ở tầng đáy). Cá tuyết vùng cực thường hay đi vào các vùng cửa sông về mùa thu. Nó là loài cá chịu lạnh rất tốt, có thể sống tốt ở nhiệt độ 0-4 °C, nhưng có thể chịu được nhiệt độ lạnh hơn, do trong máu của chúng có các hợp chất glycoprotein chống đông (AFGP). Chúng hợp lại thành bầy lớn trong các vùng nước không bị băng che phủ. Mùa sinh sản diễn ra từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau. Trứng cá trôi nổi. Mỗi con cái có thể đẻ 10-35 nghìn trứng mỗi lần. Độ tuổi thuần thục về mặt sinh dục là 3-4 năm tuổi, khi đạt độ dài 19–20 cm, và chúng có thể sống tới 6-7 năm.

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nó là một trong những nguồn thức ăn chủ yếu của kỳ lân biển, cá voi trắng, hải cẩu vòng và các loài chim biển. Nó là loài cá được đánh bắt ở quy mô thương mại tại Nga trong những năm gần đây, tại khu vực ven Bạch Hảibiển Barents, nhưng chất lượng thịt không được đánh giá cao.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Boreogadus saida tại Wikimedia Commons

  • Boreogadus saida trong IT IS, truy cập ngày 19-3-2006
  • Boreogadus saida tại FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 10 năm 2005. N.p.: FishBase, 2005.