Harry Nyquist

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Harry Nyquist
Sinh 7 tháng 2, 1889(1889-02-07)
Stora Kil, Nilsby, Varmland, Thuỵ Điển
Mất 4 tháng 4, 1976 (87 tuổi)
Harlingen, Texas, Mỹ
Nơi cư trú Mỹ
Quốc tịch Mỹ
Ngành Kỹ sư Điện tử
Nơi công tác Phòng thí nghiệm Bell
Alma mater Đại học Yale
Đại học Bắc Dakota
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Henry Andrews Bumstead
Nổi tiếng vì Định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon
Tỷ lệ Nyquist
nhiễu Johnson–Nyquist
Tiêu chuẩn ổn định Nyquist
Tiêu chuẩn Nyquist ISI
Quĩ đạo Nyquist
Tần số Nyquist
Bộ lọc Nyquist
Định lý suy giảm dao động
Giải thưởng IEEE Medal of Honor
Stuart Ballantine Medal (1960)

Harry Nyquist (tên đầy đủ Harry Theodor Nyqvist; phát âm theo tiếng Anh: [nʏ:kvɪst], không phải [naɪkwɪst] như thường lệ), (7/2/1889 – 4/4/1976) là một nhà khoa học có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành lý thuyết thông tin.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Nyquist sinh ra tại giáo xứ Stora Kil, Nilsby, Värmland, Thuỵ Điển. Bố mẹ ông là Lars Jonsson Nyqvist (sinh năm 1847) và Katrina Eriksdotter (sinh năm 1857). Bố mẹ ông có 7 người con: Elin Teresia, Astrid, Selma, Harry Theodor, Aemelie, Olga Maria, và Axel. Không ai trong 7 người con đó được rửa tội. Ông di cư tới Mỹ năm 1907.

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Ông vào học Trường Đại học Bắc Dakota năm 1912 và lần lượt lấy bằng cử nhân khoa học và thạc sĩ khoa học chuyên ngành kỹ sư điện vào năm 1914 và 1915. Ông lấy bằng Tiến sĩ vật lý tại Đại học Yale năm 1917.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông làm việc cho phòng nghiên cứu và phát triển AT&T từ 1917 đến 1934, và tiếp tục làm việc ở đó, khi nó được chuyển thành Bell Telephone Laboratories trong cùng năm, cho đến khi về hưu vào 1954.

Nyquist được nhận huân chương IRE Medal of Honor vào năm 1960 cho "những đóng góp cơ bản để định lượng khái niệm nhiễu do nhiệt, truyền số liệu và vòng phản hồi âm." Vào tháng 10 năm 1960 ông được nhận huân chương Stuart Ballantine Medal do Viện Franklin cấp "vì những phân tích lý thuyết và những phát minh thực tiễn trong lĩnh vực hệ thống truyền thông trong suốt 40 năm, đặc biệt, là công trình đầu tiên trong lý thuyết truyền vô tuyến, nhiễu do nhiệt trong chất dẫn điện, và những đóng góp trong hệ thống phản hồi." Vào năm 1969, ông nhận được huân chương củaHọc viện kỹ thuật quốc gia "ghi nhận những đóng góp nền tảng của ông cho kỹ thuật."

Nyquist sống ở Pharr, Texas sau khi về hưu, và mất tại Harlingen, Texas vào 4/4/1976.

Đóng góp cho kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Là một kỹ sư tại Phòng thí nghiệm Bell, Nyquist thực hiện nhiều nghiên cứu quan trọng về nhiễu do nhiệt ("nhiễu Johnson–Nyquist")[1], độ ổn định củabộ khuếch đại hồi tiếp, vô tuyến, fax, vô tuyến truyền hình, và các vấn đề truyền thông quan trọng khác. Cùng với Herbert E. Ives, ông đã phát triển máy fax đầu tiên của AT&T và công bố vào năm 1924. Năm 1932, ông xuất bản bài báo kinh điển về độ ổn định của bộ khuếch đại phản hồi.[2] ngày nay có thể tìm thấy Tiêu chuẩn ổn định Nyquist trong nhiều sách giáo khoa về lý thuyết điều khiển phản hồi.

Lý thuyết đầu tiên của ông về xác định băng thông cần thiết cho truyền tin đã đặt cơ sở cho những tiến bộ sau này bởi Claude Shannon,[3] dẫn đến những phát triển của ngànhlý thuyết thông tin.

Năm 1927 Nyquist xác định số xung độc lập có thể truyền qua một kênh vô tuyến trên một đơn vị thời gian bị giới hạn bằng hai lần băng thông của kênh đó. Nyquist công bố kết quả nghiên cứu của mình trong bài báo những đề tài đã biết trong Lý thuyết truyền tín hiệu vô tuyến (1928). Qui tắc này là một đối ngẫu của định lý lấy mẫu Nyquist–Shannon mà ta thấy hiện nay.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ H. Nyquist, "Thermal Agitation of Electric Charge in Conductors", Phys. Rev., Vol. 32, pp. 110-113, 1928
  2. ^ H. Nyquist, "Regeneration theory", Bell System Technical Journal, vol. 11, pp. 126-147, 1932
  3. ^ Nyquist, Harry. "Certain factors affecting telegraph speed". Bell System Technical Journal, 3, 324–346, 1924

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:IEEE Medal of Honor Laureates 1951-1975