Heckler & Koch G11

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Heckler & Koch G11
Gewehr G11 sk.jpg
Loại Súng trường tấn công
Nguồn gốc  Đức
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Heckler & Koch
Các biến thể LMG11 (súng máy hạng nhẹ), G11 PDW (vũ khí tự vệ)
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng
  • 3,6 kg rỗng
  • 4,3 kg đầy đạn
Chiều dài 750 mm
Cỡ nòng  540 mm

Đạn
  • Đạn không có vỏ 4.73x33mm (DM11): G11 K2, LMG11
  • 4.7x2mm, 4.3mm, 4.9mm: Mẫu thử nghiệm khác
  • 4.73x25mm không vỏ: G11 PDW
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng khí nén, khoang chứa đạn xoay, lùi nòng kết hợp trích khí để giảm độ giật
Tốc độ bắn
  • 460 viên/phút (tự động)
  • 2000 viên/phút (bắn ba viên)
Sơ tốc Khoảng 930 m/s
Cơ cấu nạp Hộp đạn rời 45 hay 50 viên
Ngắm bắn Hệ thống nhắm quang học

Heckler & Koch G11 là loại súng trường tấn công với cấu hình băng đạn gắn phía sau thử nghiệm của Đức được phát triển từ ngững năm 1960 đến những năm 1980 trong dự án Gesellschaft für Hülsenlose Gewehrsysteme (Tổng hợp tác phát triển hệ súng trường không có vỏ đạn), một dự án được thực hiện bởi Heckler & Koch (thiết kế máy móc và cấu hình vũ khí), Dynamit Nobel (nghiên cứu thuốc súng và cấu hình đạn), Hensoldt Wetzlar (nghiên cứu hệ thống xác định mục tiêu và hệ thống nhắm quang học). Loại súng này sử dụng loại đạn không có vỏ. Tuy nhiên chương trình phát triển và trang bị loại súng này đã bị hủy bỏ vì nhiều lý do khác nhau.

G11 có chế độ bắn hai và ba viên, ở chế độ này tốc độ bắn sẽ rất cao các viên đạn sẽ được bắn khi độ giật của viên đạn thứ nhất còn chưa kịp tác động đến khẩu súng để làm nó bị lệch. Việc này giúp đảm bảo độ chính xác cao cho phép các viên đạn có thể đi cùng một đường đạn đâm vào một điểm trên mục tiêu giúp gia tăng khả năng xuyên giáp.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

G11 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với cách hoạt động khá độc đáo, khoang chứa đạn sẽ xoay 90 độ trong mỗi lần nạp đạn. Vì hộp đạn gắn phía trên và dọc theo nòng súng, xạ thủ sẽ đẩy hộp đạn từ phía trước nòng súng ra phía sau. Các viên đạn sẽ đứng vuông góc với nòng súng vì thế chúng phải được xoay 90 độ trước khi có thể khai hỏa. Nút lên đạn nằm ở phía bên trái súng có dạng nút quay, sau khi xoay nửa vòng thì một đòn bẩy nối vào nút sẽ đẩy viên đạn xuống khoang chứa đạn và tách ra để nút lên đạn nối vào khoang chứa, khi xoay nửa còn lại thì khoang chứa đạn sẽ xoay 90 độ để nối với nòng súng và khóa lại sẵn sàng để bắn. Nếu đạn không nổ thì có thể xoay nút lên đạn tiếp để khoang chứa xoay tiếp 90 độ và chuẩn bị nạp viên đạn mới, viên đạn mới sẽ đẩy viên đạn cũ ra khỏi khoang chứa khi nó vào thế chỗ và viên đạn không nổ sẽ rơi xuống qua một khe nằm bên dưới. Khi bắn một lượng khí nén được trích ra để cho khoang chứa đạn và đòn bẩy hoạt động.

Một điểm thú vị khác của G11 là bộ khóa nòng, hệ thống trích khí, nòng và hộp đạn khi gắn vào là một khối thống nhất. Chúng sẽ chuyển động lùi về phía sau sau mỗi lần bắn để hấp thu độ giật và một lò xo lớn trong báng súng sẽ đẩy khối trở về chỗ cũ. Nút lên đạn sẽ không di chuyển theo khối này lúc bắn. Súng có các chế độ bắn khác nhau phát một, hai viên, ba viên và tự động. Với cơ chế bắn hai và ba viên thì độ lùi của khối sẽ được thiết lập sâu hơn vì khi viên đạn mới thì ngay thì ngay khi viên đạn mới được nạp vào khoang chứa đạn nó sẽ khai hỏa ngay lập tức mà không đợi hệ thống được đẩy trở về vị trí cũ do gia tốc khối lượng giúp cho khẩu súng đứng yên vẫn còn chưa bị độ giật của các viên đạn trước làm thay đổi. Độ lùi của khối ở các chế độ bắn này cũng khác nhau nếu bắn với chế độ ba viên thì hệ thống sẽ cho khối lùi tối đa để lò xo có thể hấp thu nhiều nhất có thể độ giật cộng hưởng của các viên đạn. Trong chế độ bắn tự động thì việc khai hỏa ngay lập tức bị vô hiệu hóa khiến cho tốc độ bắn giảm đi và hệ thống sẽ thiết lập cho khối lùi tối thiểu để giảm lực giật do quán tính của khối tạo khi kết thúc chu kỳ lùi.

Nếu so sánh thì cách hoạt động khối lùi này khá giống AN-94 nhưng AN-94 lại phức tạp hơn do nó cần phải nhả vỏ đạn, bù lại G11 lại có vấn đề với việc tản nhiệt cho cơ chế hoạt động và đạn không có vỏ này dẫn đến việc các viên đạn đôi khi nổ tung trong súng trở nên thường xuyên khi súng bắn hơi lâu. Việc nhả vỏ đạn cũng là một trong nhiều cách tản nhiệt cho súng vì một lượng lớn nhiệt do thuốc súng tạo ra khi bắn sẽ được giữ ở vỏ đạn và chúng sẽ được đẩy ra ngoài, còn khi không có vỏ thì tất cả nhiệt lượng sẽ truyền thẳng vào các bộ phận của súng khiến súng nóng lên rất nhanh nếu không có cơ chế tản nhiệt phù hợp. Chính vì lý do này mà G11 phải có thời gian nghỉ sau khi bắn hết một băng đạn. Để giảm tỉ lệ việc đạn bị nổ trong súng một loại thuốc đạn không vỏ mới đã được phát triển sử dụng nitrocellulose thay cho hexogen để nó cháy chậm hơn và bọc một lớp mỏng hợp chất đặc biệt để cách nhiệt cũng như tăng sức chịu nhiệt của viên đạn lên đến khoảng 100 độ. Tuy nhiên ngoài việc bị quá tải nhiệt và đạn bị nổ thì thiết kế không có bất kỳ khe hở nào khiến loại súng này trở nên rất đáng tin khi sử dụng trong môi trường bụi đất cũng như cần ít thời gian làm sạch hơn.

Hộp đạn gắn phía trên và dọc theo nòng súng có thể chứa 50 viên đạn sau đó giảm xuống còn 45 viên do vấn đề tản nhiệt, khá nhiều nếu so với các loại súng khác có cùng kích thước. Do không có vỏ, kích thước nhỏ cũng như thuốc súng được ép dưới dạng hình chữ nhật nên tiết kiệm được không gian trống không cần thiết. Mẫu nâng cấp có thêm hai rãnh ở hai bên rãnh gắn hộp đạn chính để gắn các hộp đạn dự trữ cũng như có thể gắn thêm lưỡi lê cùng chân chống phía bên dưới. Hệ thống nhắm cơ bản của G11 là hệ thống nhắm quang học 1X.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù đã qua được các cuộc thử nghiệm nhưng vì nhiều lý do loại súng này không bao giờ được sản xuất hàng loạt và sau sự kiện tái thống nhất nước Đức thì chương trình hoàn toàn bị hủy bỏ cũng như loại súng được chọn để trang bị đại trà cho quân đội Đức là khẩu HK G36. Có khoảng 1000 khẩu đã được chế tạo.

Dù vậy các thông số và kết quả khi thử nghiệm loại súng này vẫn được sử dụng để phát triển trong các chương trình vũ khí hiện đại khác.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]