Kali pemanganat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kali pemanganat
Potassium-permanganate-2004-unit-cell-3D-balls.png
Potassium-permanganate-sample.jpg
Danh pháp IUPAC Potassium manganate(VII)
Tên khác Potassium permanganate
Potassium manganate(VII)
Chameleon mineral
Condy's crystals
Permanganate of potash
Nhận dạng
Số CAS 7722-64-7
PubChem 516875
Số EINECS 231-760-3
KEGG D02053
Số RTECS SD6475000
Mã ATC D08AX06,V03AB18
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
Thuộc tính
Công thức phân tử KMnO4
Phân tử gam 158.034 g/mol
Bề ngoài purplish-bronze-gray needles
magenta–rose in solution
Mùi odorless
Tỷ trọng 2.703 g/cm3
Điểm nóng chảy 240 °C, 513 K, 464 °F
Độ hòa tan trong nước 6.38 g/100 mL (20 °C)
25 g/100 mL (65 °C)
Độ hòa tan trong decomposes in alcohol and organic solvents
Chiết suất (nD) 1.59
Cấu trúc
Cấu trúc tinh thể Orthorhombic
Nhiệt hóa học
Entanpi
hình thành
ΔfHo298
−813.4 kJ/mol
Entrôpi mol tiêu chuẩn So298 171.7 J K–1 mol–1
Các nguy hiểm
MSDS External MSDS
Phân loại của EU Oxidant (O)
Harmful (Xn)
Dangerous for the environment (N)
Non-Flammable
Chỉ mục EU 025-002-00-9
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
2
0
OX
Chỉ dẫn R R8, Bản mẫu:R22, R50/53
Chỉ dẫn S Bản mẫu:S2, S60, S61
Các hợp chất liên quan
Anion khác Potassium manganite
Potassium manganate
Cation khác Sodium permanganate
Ammonium permanganate
Hợp chất liên quan Manganese heptoxide

Kali pemanganat là một chất rắn màu tím (hay còn gọi là thuốc tím). Công thức hóa học là KMnO4. Nó tan trong nước tạo thành dung dịch tím mãnh liệt, việc cho bay hơi nó để lại các tinh thể lăng trụ màu đen tím sáng lấp lánh.[1] Năm 2000, sản lượng toàn cầu khoảng 30.000 tấn.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1659, Johann Rudolf Glauber trộn một hỗn hợp của khoáng chất pyrolusite và kali cacbonat để có được một loại vật liệu mà khi hòa tan trong nước, đã cho một dung dịch màu xanh lá cây (kali manganat) mà từ từ chuyển sang màu tím và sau đó cuối cùng màu đỏ. Báo cáo này trình bay mô tả đầu tiên của việc sản xuất kali pemanganat[3]. Khoảng gần 200 năm sau, nhà hóa học London Henry Bollmann Condy đã có mối quan tâm đến chất khử trùng, và đưa ra thị trường một số sản phẩm bao gồm nước ion hóa. Ông thấy rằng pyrolusite pha trộn với NaOH và hòa tan nó trong nước sản xuất một dung dịch với đặc tính tẩy uế. Ông được cấp bằng sáng chế giải pháp này, và tiếp thị nó như là chất lỏng Condy. Mặc dù có hiệu quả, giải pháp không phải là rất ổn định. Điều này đã được khắc phục bằng cách sử dụng KOH thay vì NaOH. Chất này đã ổn định hơn, và có lợi thế của việc chuyển đổi dễ dàng các tinh thể permanganat kali hiệu quả như nhau. Vật liệu kết tinh này được gọi là tinh thể của Condy hoặc bột của Condy. Kali permanganat tương đối dễ dàng để sản xuất do đó Condy sau đó đã buộc phải dành thời gian đáng kể trong pháp lý để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh từ các sản phẩm tiếp thị tương tự như chất lỏng Condy hoặc tinh thể Condy[4]. Các nhiếp ảnh thời kỳ đầu sử dụng nó như là một thành phần bột của đèn flash. Nó được thay thế bằng các chất oxi hóa khác, do sự bất ổn của hỗn hợp permanganat. Dung dịch nước của KMnO4 đã được sử dụng cùng với T-Stoff (tức là 80% hydrogen peroxide) làm nhiên liệu đẩy cho máy bay gắn động cơ tên lửa Messerschmitt Me 163. Trong ứng dụng này, nó được gọi là Z-Stoff. Sự kết hợp của các nhiên liệu đẩy đôi khi vẫn còn được sử dụng trong ngư lôi.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thường được dùng phản ứng điều chế oxi theo phương trình hóa học sau:

2KMnO4−−−>K2MnO4+MnO2+O2

Dùng làm thuốc chữa bệnh cho cá

Đựợc dùng trong Y học với tác dụng sát trùng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ F. Burriel, F. Lucena, S. Arribas and J. Hernández, (1985), Química Analítica Cualitativa, page 688, ISBN 84-9732-140-5.
  2. ^ Arno H. Reidies "Manganese Compounds" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2002, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a16_123
  3. ^ Weeks, M. E. and Leicester, H. M.; Discovery of the Elements, Journal of Chemical Education 1968
  4. ^ "Important Trade Mark Case", Otago Witness, Volume 02, Issue 2420, 2 August 1900, Page 53

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]