Lepospondyli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lepospondyli
Thời điểm hóa thạch: 359–251 triệu năm trước đây Than Đá sớm[1] - Permi muộn[2]
Lepospondyli diversity. (Rhynchonkos (A), Phlegethontia (B), Lysorophus (C) & Diplocaulus (D))
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)"Amphibia" (sensu lato)
Phân lớp (subclass)Lepospondyli
Các nhóm

Lepospondyli là một nhóm động vật bốn chân đa dạng sống từ đầu kỷ Cacbon đến đầu Permi. Với ngoại lệ là một mẫu hóa thạch (Diplocaulus minumus) từ Maroc có niên đại vào cuối kỷ Permi,[3] thì các hóa thạch của nhóm này chỉ hạn chế châu ÂuBắc Mỹ.[4] Năm nhóm khác nhau hiện đã được biết là: Adelospondyli; Aïstopoda; Lysorophia; MicrosauriaNectridea. Lepospondyli có các hình thức cơ thể đa dạng và bao gồm các loài có cơ thể giống kỳ giông, lươn hay rắn, hoặc giống như thằn lằn. Không có chi nào thực sự to lớn (chi to lớn nhất, Diplocaulus, đạt đến một mét chiều dài, nhưng hầu hết nhỏ hơn nhiều). Lepospondyli được đặt tên vào năm 1888 bởi Karl Alfred von Zittel, người đã nghĩ ra tên gọi này để bao gồm một số động vật bốn chân từ Đại Cổ Sinh chia sẻ một số đặc trưng chung về dây sống và răng.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Adelospondylus, an adelospondyl
Ophiderpeton, an aïstopod
Diplocaulus, a nectridean
Pelodosotis, a microsaur

Lớp Lưỡng cư

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Andrews, S.M. & Carroll, R.L. (1991) The Order Adelospondyli: Carboniferous lepospondyl amphibians. Transactions of the Royal Society of Edinburgh, Earth Sciences 82:239–275.
  2. ^ Anderson, J. S. & Kissel, R. A. (2002) Lepospondyl diversity in the Early Permian and Late Pennsylvanian. Journal of Vertebrate Paleontology, 22(3):32A.
  3. ^ Germain, D. (2010) The Moroccan diplocaulid: the last lepospondyl, the single one on Gondwana. Historical Biology 122(1-3):4-39.
  4. ^ Carroll, R. L. (1988) Vertebrate Paleontology and Evolution, WH Freeman & Co.