Nhật Ký Công Chúa (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhật Ký Công Chúa

Áp phích chính thức
Thông tin phim
Đạo diễn Garry Marshall
Sản xuất Whitney Houston
Debra Martin Chase
Mario Iscovich
Kịch bản Gina Wendkos
Dựa trên The Princess Diaries của
Meg Cabot
Diễn viên Julie Andrews
Anne Hathaway
Heather Matarazzo
Héctor Elizondo
Mandy Moore
Caroline Goodall
Robert Schwartzman
Âm nhạc John Debney
Quay phim Karl Walter Lindenlaub
Dựng phim Bruce Green
Hãng sản xuất Walt Disney Pictures
BrownHouse Productions
Phát hành Buena Vista Pictures
Công chiếu 3 tháng 8, 2001 (2001-08-03)
Độ dài 115 phút
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 26 triệu đô la Mỹ
Doanh thu 165,335,153 đô la Mỹ[1]

Nhật Ký Công Chúa (tựa tiếng Anh: The Princess Diaries) là một bộ phim hài năm 2001 của Mỹ được sản xuất bởi nữ ca sĩ và diễn viên nổi tiếng Whitney Houston cùng với đạo diễn Garry Marshall. Bộ phim lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 2000 của nhà văn Meg Cabot. Ngôi sao phim hành động mới Anne Hathaway (khoảng thời gian ra mắt bộ phim điện ảnh đầu tay của cô) vào vai Mia Thermopolis - một cô nữ sinh trung học ngây thơ bỗng dưng phát hiện ra mình là người thừa kế ngai vàng của Vương quốc hư cấu Genovia, cai trị bởi Nữ hoàng Clarisse Renaldi - do nữ diễn viên đoạt giải Oscar Julie Andrews đóng. Heather Matarazzo vào vai người bạn thân nhất của Mia - Lilly Moscovitz, Héctor Elizondo vai Joseph và Robert Schwartzman vào vai anh trai của Lilly - Michael, người đã phải lòng Mia.

Nhật Ký Công Chúa phát hành tại các rạp chiếu Bắc Mỹ vào ngày 3 tháng 8 năm 2001, bộ phim giành được vị trí thứ 3 ở phòng vé và là một thành công thương mại với tổng doanh thu lên đến 165.335.153 đô la Mỹ trên toàn thế giới.[1] Phần tiếp theo của bộ phim - Nhật Ký Công Chúa: Đám Cưới Hoàng Gia, được phát hành vào tháng 8 năm 2004.

Nội dung phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ở tuổi 15, Mia Thermopolis (Anne Hathaway) sống cùng với người mẹ góa phụ Helen cùng với con mèo Fat Loui trong một trạm cải tạo cứu hỏa San Francisco. Mia là cô nữ sinh vụng về, chậm chạp với mái tóc xù bông và đôi kính mắt cú to trên mặt, cô thường bị Josh Bryant và bạn gái Lana Thomas chế giễu. Ở trường học, cô chỉ có hai người bạn là Lilly (Heather Matarazzo) - cả hai đều bị mọi người ghét và anh trai của Lilly - Michael (Robert Schwartzman) - người bí mật đã phải lòng Mia, còn lại hầu như chẳng mấy ai quan tâm đến một cô gái nghịch ngợm, đôi phần luộm thuộm như cô bé.

Cuộc sống của cô không có gì đặc biệt và sẽ cứ mãi như vậy cho đến ngay trước ngày sinh nhật mừng tuổi 16, Mia đột nhiên hay tin bà nội mình - Clarisse Renaldi (Julie Andrews) từ Genovia - một tiểu vương quốc của Châu Âu xa xôi đến thăm. Khi Mia đến gặp bà tại dinh thự lớn, Clarisse tiết lộ bà là nữ hoàng lãnh đạo vương quốc Genovian và người cha quá cố của Mia là Thái tử của Genovia. Mia choáng váng khi biết cô là cháu gái duy nhất của nữ hoàng - công chúa Amelia Mignonette Thermopolis Renaldi, chuẩn bị kế vị ngai vàng trị vì Genovia.

Quá kinh ngạc trước điều bất ngờ này, Mia chạy về nhà và giận dữ đối mặt với mẹ của mình, người giải thích cô đã lên kế hoạch cho Mia vào ngày sinh nhật thứ 18 của con gái, nhưng cái chết của cha cô đã buộc phải giải quyết vấn đề theo cách này.

Các nhân vật & phân vai[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim sản xuất bởi Whitney Houston, Debra Martin Chase và đạo diễn Garry Marshall. Anne Hathaway được nhận vào vai diễn Mia vì cháu gái của Garry Marshall khi nhìn thấy băng thử giọng của cô và thốt lên rằng cô ấy (Hathaway) có "mái tóc của một nàng công chúa" đẹp nhất."[2] Theo Hathaway, sự lựa chọn đầu tiên cho vai diễn của Mia Thermopolis là nữ diễn viên Liv Tyler, nhưng hãng sản xuất phim lại ưa thích để một khuôn mặt hoàn toàn mới xuất hiện.

Héctor Elizondo - nam diễn viên người Mỹ xuất hiện trong tất cả những bộ phim mà Marshall làm đạo diễn,[3] vào vai Joe, người đứng đầu an ninh của vương quốc Genovian. Con gái của Garry Marshall - Kathleen, đóng vai Charlotte Kutaway - viên thư ký của Clarisse. Họ Charlotte được đề cập chỉ trong các khoản tín dụng, và Garry Marshall nói rằng đó là một sự tham khảo đến cách cô ấy thường sử dụng trong những cảnh quay đã cắt. Trong một cảnh quay, Robert Schwartzman - thành viên của ban nhạc Rooney xuất hiện trong bộ phim với vai trò khách mời, anh vào vai ca sĩ chính Michael của một ban nhạc đường phố có tên Flypaper.

Cuốn sách cùng tên với bộ phim được đề cập ở thành phố New York, nhưng vị trí của bộ phim đã thay đổi ở thành phố San Francisco. Hai nhân vật Mark & Brian cũng xuất hiện trong Nhật Ký Công Chúa trong vai hai người dẫn chương trình đài phát thanh bờ biển phía tây.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Ký Công Chúa ra mắt tại 2.537 rạp chiếu ở Bắc Mỹ và thu về 22.862.269 đô la Mỹ trong tuần đầu công chiếu. Đến tuần cuối cùng, doanh thu tổng cộng của bộ phim là 165.335.153 đô la Mỹ trên toàn thế giới, trong đó thu về 108.248.956 đô la Mỹ chỉ tính riêng tại thị trường Bắc Mỹ và 57.086.197 đô la Mỹ trong những vùng lãnh thổ khác.[1]

Đánh giá và phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim nhận được nhiều đánh giá trái chiều từ phía các nhà phê bình. Trang mạng đánh giá phim Rotten Tomatoes tổng kết và cho biết 47% trong tổng số 113 nhà phê bình phim đã dành cho Nhật Ký Công Chúa một đánh giá tích cực, với số điểm trung bình đánh giá là 5,2 trên 10.[4] Với trang Metacritic, tính điểm bình quân trong tổng số 100 đánh giá từ các nhà phê bình quan trọng dành cho bộ phim số điểm là 52 dựa trên 27 đánh giá.[5]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Ứng cử viên Kết quả
2002 Giải ALMA Ca khúc nổi bật nhất trong nhạc phim điện ảnh "Miracles Happen" của Myra Đề cử
ASCAP Tốp phim ăn khách nhất John Debney Đoạt giải
Giải Artios Dàn diễn viên phim truyện, hài xuất sắc nhất Marcia Ross, Donna Morong, Gail Goldberg Đề cử
Giải BFCA Phim gia đình hay nhất - Thể loại hành động Đề cử
Golden Trailer Award Phim hoạt hình/gia đình hay nhất Đề cử
Giải Hollywood cho chuyên viên trang điểm tạo mẫu tóc Hóa trang xuất sắc nhất Hallie D'Amore, Leonard Engelman Đề cử
MTV Movie Award Màn trình diễn đột phá xuất sắc nhất của nữ diễn viên Anne Hathaway Đề cử
Teen Choice Award Sự lựa chọn phim: Nữ diễn viên trong một bộ phim hài xuất sắc nhất Anne Hathaway Đề cử
Sự lựa chọn phim: Hài Đề cử
Young Artist Award Phim hài - nhạc kịch gia đình xuất sắc nhất Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “The Princess Diaries”. Box Office Mojo. Internet Movie Database. Truy cập 20 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ DVD bình luận về bộ phim Nhật Ký Công Chúa. Hậu trường sản xuất của bộ phim. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  3. ^ "Hector Elizondo: Humor, Eloquence & Bongos". Screen Actors Guild Foundation. 30 tháng 7 năm 2002. Truy cập 9 tháng 10 năm 2006.
  4. ^ “The Princess Diaries”. Rotten Tomatoes. Flixter. Truy cập 14 tháng 2 năm 2013. 
  5. ^ “The Princess Diaries reviews at Metacritic.com”. Metacritic. Truy cập 14 tháng 2 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]