Olga Fyodorovna Berggolts

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
О́льга Фёдоровна Берго́льц
(Olga Fyodorovna Berggolts)
Sinh 16 tháng 5 năm 1910
Flag of Russia.svg Sankt-Peterburg, Nga
Mất 13 tháng 11 năm 1975 (65 tuổi)
Flag of the Soviet Union.svg Leningrad, Liên Xô
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Thể loại Thơ, Bút ký, Kịch

Olga Fyodorovna Berggolts (tiếng Nga: О́льга Фёдоровна Берго́льц) (sinh ngày 16 tháng 5 năm 1910, mất ngày 13 tháng 11 năm 1975) là nữ nhà thơ, nhà văn Liên Xô. Bà nổi tiếng nhất với những tác phẩm sáng tác trong thời kỳ Leningrad bị bao vây.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Olga Berggolts sinh năm 1910 tại Sankt-Peterburg. Những năm 1920 khi còn học ở trường phổ thông, Berggolts đã tham gia nhóm Смена và làm quen với Boris Kornilov, hai người làm đám cưới năm 1926. Năm 1930, sau khi tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Leningrad, Olga Berggolts đi Kazakhstan làm phóng viên của báo Советская степь (Thảo nguyên Xô Viết) rồi trở về Leningrad làm biên tập ở một số tờ báo và xuất bản các cuốn: Годы штурма (Những năm xung kích, ký), Ночь в Новом мире (Đêm trong thế giới mới, tập truyện) và tập thơ Стихотворения (Thơ). Từ đây thơ của Olga Berggol bắt đầu được chú ý. Cũng trong giai đoạn này bà ly dị Kornilov và cưới Nikolay Molchanov.

Cuối thập niên 1930, Berggolts liên tục gặp bi kịch trong cuộc sống. Hai con gái của bà là Irina và Maya lần lượt qua đời. Năm 1938 đến lượt Boris Kornilov bị kết án nhầm và bị xử bắn trong giai đoạn cuộc Đại thanh trừng, bản thân Olga Berggolts cũng bị bắt giam vì liên hệ với "kẻ thù của nhân dân". Năm 1939 bà được trả tự do.

Trong suốt 900 ngày Leningrad bị bao vây, Olga Berggolts ở lại thành phố quê hương, bà làm việc ở đài phát thanh, hàng ngày kêu gọi người Leningrad dũng cảm bảo vệ thành phố thân yêu của mình. Thời gian này bà viết những trường ca nổi tiếng về những người bảo vệ thành phố Leningrad: Февральский дневник (Nhật ký tháng hai) và Ленинградскую поэму (Trường ca Leningrad). Olga Berggolts có câu nói nổi tiếng được khắc trên bức tường của nghĩa trang Liệt sỹ Leningrad:

"Никто не забыт и ничто не забыто" (Không ai bị lãng quên và không cái gì bị lãng quên).

Ngày 20-2-1949 Olga Berggolts chính thức hóa quan hệ vợ chồng với nhà ngôn ngữ học Georgi Makogonenko (1912-1986), mặc dù trước đó, ngay từ năm 1942, họ đã chung sống dưới một mái nhà.

Olga Berggolts mất ngày 13 tháng 11 năm 1975Leningrad, bà được chôn cất tại Nghĩa trang Literatorskie Mostki. Bà được tặng thưởng Huân chương Lênin và nhiều loại huân chương khác. Một con phố ở Sankt-Peterburg ngày nay cũng được lấy theo tên bà.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Глубинка (Độ sâu, 1932), ký
  • Годы штурма (Những năm xung kích), ký;
  • Ночь в Новом мире (Đêm trong thế giới mới, 1935), truyện
  • Журналисты (Nhà báo, 1934), truyện
  • Зерна (Ngũ cốc, 1935), thơ
  • Стихотворения, (Thơ, 1934)
  • Книга песен (Cuốn sách những bài ca, 1936)
  • Февральский дневник (Nhật ký tháng hai, 1942), trường ca
  • Ленинградская поэма (Trường ca Leningrad, 1942), trường ca
  • Памяти защитников, (Ký ức những người bảo vệ, 1944), ký
  • Ленинградская тетрадь (Cuốn vở ghi chép Leningrad, 1942
  • Первороссийск (Pervorossiysk, 1950), trường ca – giải thưởng Nhà nước Liên Xô 1951.
  • Они жили в Ленинграде (Họ đã sống ở Leningrad, 1944), kịch
  • У нас на земле (Trên đất của ta, 1947),
  • Верность (Lòng chung thủy, 1954), bi kịch

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Борису Корнилову
 
...И все не так, и ты теперь иная.
поешь другое, плачешь о другом...
Б. Корнилов
 
1
 
О да, я иная, совсем уж иная!
Как быстро кончается жизнь...
Я так постарела, что ты не узнаешь,
а может, узнаешь? Скажи!
 
Не стану прощенья просить я,
ни клятвы напрасной не стану давать.
Но если — я верю — вернешься обратно,
но если сумеешь узнать,—
 
давай о взаимных обидах забудем,
побродим, как раньше, вдвоем,—
и плакать, и плакать, и плакать мы будем,
мы знаем с тобою — о чем.
 
2
 
Перебирая в памяти былое,
я вспомню песни первые свои:
«Звезда горит над розовой Невою,
заставские бормочут соловьи...»
 
...Но годы шли все горестней и слаще,
земля необозримая кругом.
Теперь — ты прав,
мой первый и пропащий,—
"пою другое, плачу о другом..."
 
А юные девчонки и мальчишки
они — о том же: сумерки, Нева...
И та же нега в этих песнях дышит,
и молодость по-прежнему права.
 
Листопад
 
Осенью в Москве на бульварах
вывешивают дощечки с надписью
"Осторожно, листопад!"
 
Осень, осень! Над Москвою
Журавли, туман и дым.
Златосумрачной листвою
Загораются сады.
И дощечки на бульварах
всем прохожим говорят,
одиночкам или парам:
"Осторожно, листопад!"
 
О, как сердцу одиноко
в переулочке чужом!
Вечер бродит мимо окон,
вздрагивая под дождем.
Для кого же здесь одна я,
кто мне дорог, кто мне рад?
Почему припоминаю:
"Осторожно, листопад"?
 
Ничего не нужно было,-
значит, нечего терять:
даже близким, даже милым,
даже другом не назвать.
Почему же мне тоскливо,
что прощаемся навек,
Невеселый, несчастливый,
одинокий человек?
 
Что усмешки, что небрежность?
Перетерпишь, переждешь...
Нет - всего страшнее нежность
на прощание, как дождь.
Темный ливень, теплый ливень
весь - сверкание и дрожь!
Будь веселым, будь счастливым
на прощание, как дождь.
 
...Я одна пойду к вокзалу,
провожатым откажу.
Я не все тебе сказала,
но теперь уж не скажу.
Переулок полон ночью,
а дощечки говорят
проходящим одиночкам:
"Осторожно, листопад"...
Gửi Boris Kornilov
 
Và tất cả đổi thay, em bây giờ đã khác
Em hát khác rồi, khóc cũng khác ngày xưa…
B. Kornilov.
 
1
 
Ồ vâng, em khác hẳn ngày xưa!
Sao cuộc đời kết thúc nhanh quá vậy…
Em đã già mà anh đâu nhận thấy
Mà, có thể là anh vẫn nhận ra?
 
Em sẽ chẳng cầu xin sự tha thứ đâu mà
Hay thề thốt, cũng là vô ích vậy
Nhưng nếu em tin rằng anh còn quay trở lại
Nhưng nếu như anh còn có thể nhận ra.
 
Thì sẽ quên hết giận hờn, ta lại cùng ta
Ta lại cùng ta, như ngày xưa, sánh bước
Hai chúng mình sẽ khóc và chỉ khóc
Về điều gì ư – chỉ ta biết thôi mà.
 
2
 
Em bây giờ lục tìm trong ký ức
Em nhớ về những câu hát đầu tiên:
"Ngôi sao trên sông Nêva cháy lên
Và hoạ mi miền ngoại ô đang hót…"
 
Nhưng cay đắng và ngọt ngào hơn, năm tháng đã qua
Trái đất này mênh mông bát ngát, bao la
Anh có lý – bây giờ em mới biết
Anh – người đầu tiên của em và anh đã mất
"Em hát khác rồi, khóc cũng khác ngày xưa…"
 
Lớp trẻ lớn lên, lại vẫn giống như ta
Lại vẫn sông Nêva, ánh chiều tà, sóng nước
Vẫn hồi hộp, say mê trong từng câu hát
Và tuổi thanh xuân vẫn có lý như xưa.
 
Mùa rụng lá cây
 
Mùa thu ở Matxcơva, trên đường phố
treo những tấm biển đề dòng chữ:
"Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!"
 
Mùa thu! Giữa trời Matxcơva
Những đàn sếu bay về trong sương khói
Những chiếc lá màu vàng sẫm tối
Đang cháy lên trong những khu vườn.
Những tấm biển treo dọc theo con đường
Những tấm biển nhắc nhở cùng tất cả
Dù ai có lứa có đôi, ai người đơn lẻ:
"Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!"
 
Ôi, con tim của tôi sao mà cô đơn
Trên con đường xa lạ!
Buổi chiều lang thang bên những ô cửa sổ
Và khẽ rùng mình dưới những cơn mưa.
Tôi ở đây một mình có phải để cho
Một người mà tôi vui, một người mà tôi quí?
Không hiểu vì sao lòng tôi lại nhớ:
"Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!"
 
Lúc này đây đã không có gì cần
Thì cũng có nghĩa chẳng còn gì để mất
Ngay cả người thân yêu, người gần gũi nhất
Đã không còn có thể gọi bạn thân.
Thì tại vì sao tôi lại cứ buồn
Rằng đến muôn đời tôi đành vĩnh biệt
Một kẻ không vui, một kẻ không hạnh phúc
Một kẻ cô đơn.
 
Chỉ đáng nực cười hay thiếu cẩn trọng chăng
Hay phải biết đợi chờ, hay chịu đựng…
Không – thật vô cùng khiếp đảm
Vẻ dịu dàng khi vĩnh biệt, như mưa.
Cơn mưa tối sầm, mưa ấm áp nhường kia
Mưa lấp loá và mưa run rẩy thế
Mong anh hạnh phúc và mong anh vui vẻ
Trong phút giây này vĩnh biệt, như mưa.
 
…Tôi một mình đi bộ ra ga
Một mình thôi, không cần ai tiễn biệt
Tôi chưa nói với anh mọi điều đến hết
Nhưng mà thôi, không nói nữa bây giờ.
Con đường nhỏ tràn đầy trong đêm khuya
Những tấm biển dọc đường như vẫn nói
Với những kẻ cô đơn trên đường qua lại:
"Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!"…
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]