Quế thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quế thanh
Saigoncinnamon.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Magnoliidae
Bộ (ordo) Laurales
Họ (familia) Lauraceae
Chi (genus) Cinnamomum
Loài (species) C. loureiroi
Danh pháp hai phần
Cinnamomum loureiroi
Nees

Quế Thanh (Hóa), còn gọi là quế Quỳ, nhục quế hay là Quế Trà My, Quế Trà Bồng, Quế Sài Gòn (danh pháp hai phần: Cinnamomum loureiroi, là một loài cây thân gỗ với lá thường xanh, thuộc chi Quế (Cinnamomum), có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á đại lục. Nó có quan hệ họ hàng gần gũi với nhục quế (quế Trung Quốc) (C. aromaticum) hơn là so với quế quan (quế Tích Lan) (C. verum), mặc dù cùng ở một chi với hai loài trên.

Tên gọi khoa học ban đầu của nó là Cinnamomum loureirii, nhưng do nó được đặt theo tên của nhà thực vật học João de Loureiro, nên tên gọi này được ICBN coi là lỗi chính tả của tên gọi chính xác là loureiroi.

Sản xuất và sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Quế thanh được sản xuất chủ yếu ở Việt Nam, dùng cho cả nội địa lẫn xuất khẩu. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm gián đoạn việc sản xuất loại quế này, nhưng kể từ đầu thế kỷ 21 thì Việt Nam đã phục hồi việc xuất khẩu loại gia vị này, tới cả Hoa Kỳ, là nơi mà nó đã không có mặt trong khoảng 20 năm gần đây. Loài cây này được trồng ở các khu vực miền bắc và miền trung Việt Nam.

Quế thanh được sử dụng chủ yếu là các vỏ có mùi thơm, nó là tương tự như của nhục quế nhưng với hương vị phức tạp và rõ ràng hơn.

Trong ẩm thực Việt Nam, bột làm từ vỏ quế thanh là một thành phần quan trọng trong nước luộc để làm phở.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]