Rainbow (album của Mariah Carey)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rainbow
Album phòng thu của Mariah Carey
Phát hành 2 tháng 11, 1999 (Mỹ)
Thu âm 1998-1999
Thể loại pop, R&B
Thời lượng 55:49
Hãng đĩa Columbia
CK-63800
Sản xuất Mariah Carey, Jimmy Jam and Terry Lewis, James Wright, DJ Clue, Duro, Damizza, David Foster, Jermaine Dupri, Bryan Michael Cox, She'kspere, Master P, Craig B
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Mariah Carey
#1's
(1998)
Rainbow
(1999)
Valentines
(2000)
Đĩa đơn từ Rainbow
  1. "Heartbreaker"
    Phát hành: 21 tháng 9, 1999
  2. "Thank God I Found You"
    Phát hành: 25 tháng 1, 2000
  3. "Crybaby"/"Can't Take That Away (Mariah's Theme)"
  4. "Against All Odds (Take a Look at Me Now)"

Rainbowalbum thứ 9 và là album phòng thu thứ 6 của nữ ca sĩ nhạc pop/R&B người Mỹ Mariah Carey, do Columbia Records phát hành tại Mỹ vào ngày 2 tháng 11 năm 1999 (xem Âm nhạc 1999). Rainbow được công nhận 3x bạch kim bởi RIAA.[1]

Thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Rainbow là album có sự cộng tác "nặng ký" với các nhà sản xuất và ca sĩ có ảnh hưởng lớn tới nền âm nhạc cuối những năm 90; Rolling Stone đã gọi album này là "một cuốn niên ký đầy chân thật của những bản ballard hip-hop gần gũi vào cuối năm 1999."[2] Bản thân Carey nói rằng "Tôi thực hiện nó trong 3 tháng, như thể "Gỡ cái mác đó cho tôi!" Tôi không thể lấy nó ra được."[3] Ca sĩ khách mời bao gồm các rapper: Jay-Z, Da Brat, Missy Elliott, Snoop Dogg, MystikalMaster P, ca sĩ UsherJoe, cùng nhóm 98 Degrees. Album đánh dấu lần đầu tiên không có sự góp mặt của nhà sản xuất Walter Afanasieff, người đã cộng tác lâu năm với Carey và đồng sản xuất hầu hết các khúc ballad dạo đầu của cô. Thay thế cho vị trí của ông là Jimmy Jam và Terry Lewis. Album được quảng bá thông qua một vài đoạn clip ngắn chiếu trên MTV, thể hiện mối thù của cô với người bạn thân, trích ra từ video "Heartbreaker", trong đó Carey đóng vai Bianca. Đây như là sự thử sức đầu tiên của Mariah Carey với diễn xuất, và nhiều lời tán thành đã dành cho sự hài hước của video khi cho thấy mặt hóm hỉnh trong con người cũng như khả năng diễn xuất thật sự của cô. Carey có sự hiện diện trên chương trình MTV Special nhằm làm nổi bật chuyến lưu diễn Rainbow World Tour vì còn nhiều video chưa phát hành khác và đã được đưa vào show diễn của cô.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Rainbow khởi đầu tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 323,000 bản tiêu thụ ngay tuần đầu tiên, kỷ lục cao nhất trong sự nghiệp của Carey vào thời đó.[4] Cũng trong tuần đầu phát hành, đĩa này bị giữ lại ở top đầu khi vị trí quán quân thuộc về album The Battle of Los Angeles của nhóm nhạc Rage Against The Machine. Tuần thứ 2 Rainbow vẫn nằm tại vị trí #2, và bị chặn bởi Breathe của Faith Hill. Album tụt xuống top 20 trong 10 tuần và kết thúc sau 35 tuần. Doanh số của album trong 1 tuần đầu đã lên đến 369,000 bản và sang tuần thứ 8 (lúc này ở vị trí thứ 9) vẫn được RIAA công nhận 3 lần bạch kim. Mặc dù thành công về mặt thương mại, nhưng đây là album đầu tiên không đạt được quán quân tại Mỹ và là vị trí xếp hạng thấp nhất kể từ Emotions (1991). Bù lại Rainbow rất thành công trên khắp thế giới, đạt quán quân tại Pháp cũng như trên bảng xếp hạng toàn cầu (ngay trong 2 tuần đầu). Vào năm 2005, theo Nielsen SoundScan đĩa nhạc đã tiêu thụ được 3 triệu bản tại Mỹ [5] cộng thêm 0.5 triệu tại Columbia House, 0.44 triệu tại BMG Music Clubs,[6] và 8.5 triệu trên toàn thế giới.

Rainbow đã sản xuất ra 2 đĩa đơn quán quân tại Mỹ trên Billboard Hot 100: "Heartbreaker" và "Thank God I Found You". Bản cover lại từ Phil Collins "Against All Odds (Take a Look at Me Now)" cùng Westlife phát hành tại Anh và là đĩa đơn quán quân thứ 2 của Carey tại đây. Nhưng với "Can't Take That Away (Mariah's Theme)"/"Crybaby" lần đầu tiên việc lọt vào top 20 của Mỹ lại trở nên khó khăn. Năm 2008, "How Much" xuất hiện trong tuyển tập của Carey "The Ballads", và ca khúc đã không bao giờ trở thành một đĩa đơn.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Heartbreaker" performed by Mariah Carey & Jay-Z – 4:46
  2. "Can't Take That Away (Mariah's Theme)" – 4:33
  3. "Bliss" – 5:44
  4. "How Much" trình diễn bởi Mariah Carey & Usher – 3:31
  5. "After Tonight" – 4:16
  6. "X-Girlfriend" – 3:58
  7. "Heartbreaker" (Remix) trình diễn bởi Mariah Carey, Da Brat, & Missy Elliott – 4:32
  8. "Vulnerability (Interlude)" – 1:12
  9. "Against All Odds (Take a Look at Me Now)" (solo version) – 3:25
  10. "Crybaby" trình diễn bởi Mariah Carey & Snoop Dogg – 5:20
  11. "Did I Do That?" trình diễn bởi Mariah Carey, Mystikal, & Master P – 4:16
  12. "Petals" – 4:23
  13. "Rainbow (Interlude)" – 1:32
  14. "Thank God I Found You" trình diễn bởi Mariah Carey, Joe, & 98 Degrees – 4:17
  15. "Do You Know Where You're Going To (Theme From Mahogany)" - 3:47 (French Edition - Hidden Track)
  16. "Against All Odds (Take a Look at Me Now)" featuring Westlife – 3:25 (UK Bonus Track)

Xếp hạng, doanh số, chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tên quốc gia Bảng xếp hạng Vị trí cao nhất Chứng nhận Doanh số
Toàn thế giới 8.5 riệu
Australia ARIA 4 Vàng 35,000
Áo 4
Canada CRIA 6 3× Bạch kim 300,000
Bỉ IFPI Belgium Vàng 25,000
Brasil 1 Bạch kim 759,000
Châu Âu IFPI 1 2x Bạch kim 2,000,000
Phần Lan Top 40 Albums 32 - -
Pháp IFOP 1 Bạch kim 475,000
Đức IFPI Germany 3 Bạch kim 300,000
Hungary[7] MAHASZ 34
Ý FIMI 10 Bạch kim 100,000
Nhật Bản RIAJ 2 5× Bạch kim 1,000,000
Mexico AMPROFON Vàng 75,000
Hà Lan NVPI 4 Vàng 40,000
New Zealand RIANZ 11 Vàng 7,500
Na Uy 11
Philippines Odyssey 4× Bạch kim 150,000
Singapore RIAS 2× Bạch kim 30,000
Hàn Quốc RIAK Bạch kim 100,000
Tây Ban Nha EIM 7 Bạch kim 100,000
Thụy Điển 15
Thụy Sĩ Hit Parade 2 Vàng 25,000
Đài Loan IFPI Taiwan 2× Bạch kim 100,000
Liên hiệp Anh BPI 8 Vàng 250,000
Mỹ RIAA 2 3× Bạch kim[8] 3,824,0001[9][10]

1 Số liệu chỉ có ở Nielsen SoundScanBMG record club sales.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]