Sếu xám hoàng gia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sếu xám hoàng gia
Balearica regulorum -Tanzania-8.jpg
Tại Tanzania
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Gruiformes
Họ (familia) Gruidae
Chi (genus) Balearica
Loài (species) B. regulorum
Danh pháp hai phần
Balearica regulorum
Bennett, 1834

Sếu xám hoàng gia (danh pháp khoa học: Balearica regulorum) là một loài chim trong họ Sếu (Gruidae). Sếu xám hoàng gia sinh sống tại những khu vực thảo nguyên khô cằn châu Phi, phía Nam sa mạc Sahara, mặc dù chúng thường làm tổ trong những môi trường ít cằn cỗi hơn. Loài chim này cũng không có thói quen di cư. Hiện người ta ghi nhận 2 phân loài của sếu xám hoàng gia, bao gồm: B. r. gibbericeps ở Đông Phi (từ miền Đông Cộng hòa dân chủ Congo cho đến Uganda) và B. r. regulorum từ Angola cho tới phía Nam châu Phi. Loài này cũng được xếp vào danh mục "loài dễ thương tổn" do số lượng suy giảm mạnh trong thời gian gần đây bởi mất môi trường sinh sống và bị săn bắn trộm. Loài chim này cũng được chọn làm biểu tượng quốc gia của Uganda, hình ảnh của chúng xuất hiện trên quốc kỳ và quốc huy của đất nước này.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sếu xám hoàng gia con trưởng thành cao khoảng 1 mét và nặng khoảng 3,5 kg. Bộ lông trên cơ thể bao gồm chủ yếu là màu xám. Đôi cánh chủ yếu là màu trắng nhưng pha lẫn với nhiều màu sắc khác. Trên đầu của chúng có một chỏm lông mao màu vàng dựng đứng, trông như một cái vương miện. Trước trán có mảng lông đen tuyền hơi phồng lên như đang đội mũ; trong khi hai bên mặt có màu trắng sữa. Cổ họng của chúng có một túi có thể phồng lên, màu đỏ tươi. Mỏ tương đối ngắn, thường có màu xám hoặc đen. Chân màu đen. Chim trống và chim mái có ngoại hình tương tự nhau, chim trống có xu hướng lớn hơn một chút. Sếu xám hoàng gia chủ yếu ăn các loài côn trùng và động vật không xương sống, bò sát, động vật có vú nhỏ. Đôi khi chúng cũng có thể ăn cả các loại quả và hạt cây. Con trống thường trình diễn các vũ điệu trong mùa giao phối để tán tỉnh con mái, những vũ điệu này bao gồm các động tác như là nhảy múa và cúi chào. Chúng cũng phát ra những tiếng kêu khá lớn, kết hợp với việc căng phồng những cái túi đỏ tươi trên cổ họng để cộng hưởng với vũ điệu tỏ tình. Những tiếng kêu của chúng được ghi nhận là có âm vực cao, tựa như tiếng còi xe. Tổ của chúng thường được xây dựng trong những thảm thực vật cao, giữa những vùng đất ngập nước và thường được lót bằng cỏ và lá cây. Loài chim này thường đẻ từ 2-5 quả trứng trong mỗi lứa. Việc ấp trứng được cả chim bố và chim mẹ tham gia và kéo dài trong khoảng 28-31 ngày. Chim con được bố mẹ chăm sóc trong khoảng thời gian từ 56-100 ngày.

Phạm vi phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Loài chim này phân bố khá rộng rãi tại khu vực Đông và Nam Phi, bao gồm lãnh thổ các nước như Congo, Uganda, Kenya, Nam Phi, Angola.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ IUCN Red List, retrieved 03-12-2009

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • BirdLife International (2009). “Balearica regulorum”. Loài bị đe dọa trong sách Đỏ. Version 2010.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2010.  Database entry includes justification for why this species is vulnerable
  • Archibald, G. W. 1992a. African cranes for the future. Proc. First S. Afr. Crane Conf.:7-9.
  • Gitahi, P. 1993. The bird with the golden crown. Komba 1:5.
  • Johnsgard PA. 1983. Cranes of the world. Bloomington: Đại học Indiana Press.
  • Mafabi, P. 1991. The ecology and conservation status of the Grey Crowned Crane in Uganda. Proc. 1987 Intl. Crane Workshop:363-367.
  • Urban, E. K. Status of cranes in Africa, 1994. Proc. 1993 Afr. Crane and Wetland Training Workshop.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]