Sa Tăng
| Sa Tăng | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Sa Ngộ Tịnh trong Tây du nguyên chỉ (西遊原旨), xuất bản năm 1819. | |||||||||||||||||
| Tên tiếng Trung | |||||||||||||||||
| Phồn thể: | 沙悟凈 | ||||||||||||||||
| Giản thể: | 沙悟净 | ||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||
| Tên Nhật Bản | |||||||||||||||||
| Hiragana: | さ ごじょう | ||||||||||||||||
| Kyūjitai: | 沙悟凈 | ||||||||||||||||
| Shinjitai: | 沙悟浄 | ||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||
| Tên Triều Tiên | |||||||||||||||||
| Chosŏn'gŭl: | 사오정 | ||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||
| Tên Thái Lan | |||||||||||||||||
| Tiếng Thái Lan: | ซัวเจ๋ง | ||||||||||||||||
| RTGS: | Sua Cheng (từ cách phát âm Triều Châu của 沙僧 "Sa Tăng") | ||||||||||||||||
| Tên Việt Nam | |||||||||||||||||
| Tiếng Việt Nam: | Sa Ngộ Tịnh | ||||||||||||||||
Să Tăng (沙僧, Bính âm:Sha Seng) hay Sa Ngộ Tịnh (Phồn thể:沙悟淨, Giản thể:沙悟淨, Bính âm: Sha Wujing) là đồ đệ út của Đường Tăng đi thỉnh kinh ở Tây Thiên trong tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân.
Mục lục |
Nguồn gốc tên gọi Sa Tăng [sửa]
Một tên gọi khác của Sa Tăng là Sa Ngộ Tịnh do Quan Thế Âm Bồ Tát đặt, có nghĩa là giác ngộ được giáo lý đạo Phật (tĩnh tâm)[1]..
Còn danh tự Sa Tăng là do Tôn Ngộ Không đặt khi ông chịu phò giá Đường Tăng, vì thấy cách chào của Sa Tăng giống hoà thượng.
Nguồn gốc của Sa Tăng [sửa]
Sa Tăng học được 18 phép thần thông biến hóa, ngày trước vốn giữ chức Quyển Liêm Đại Tướng (卷帘大将). Là chức để coi việc trông rèm cho Ngọc Đế. Năm xưa làm vỡ chén lưu ly trong Hội Bàn Đào trong lúc say rượu nên bị đày xuống sông Lưu Sa làm yêu quái. Vì thế mà Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho phò giá Đường Tăng để chuộc lại lỗi lầm đã gây ra.
Tây du ký miêu tả Sa Tăng như sau:
| “ |
|
” |
Cuộc chiến giữa Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng [sửa]
Thầy trò Đường Tăng đi đến sông Lưu Sa gặp trở ngại không qua được, Trư Bát Giới phải xuống sông đánh nhau với Sa Tăng, ở trên bờ có Tôn Ngộ Không giúp đỡ nhưng vẫn bất phân thắng bại:
| “ |
|
” |
Tôn Ngộ Không phải cầu cứu Quan Âm Bồ Tát, Bồ Tát phái Mộc Tra xuống thu phục Sa Ngộ Tịnh, quy y làm đồ đệ thứ ba của Đường Tăng.
Phò giá Đường Tăng [sửa]
Trong cuộc hành trình, Sa Tăng cùng Trư Bát Giới chuyên gánh hành lý và chăn ngựa. Về vũ khí, Sa Tăng chuyên sử dụng một cây bảo trượng hàng yêu nặng 5.048 cân[4]. So với Tôn Ngộ Không, Sa Tăng và Trư Bát Giới giỏi chiến đấu dưới nước hơn.
Tính cách nhân vật [sửa]
Sa Tăng là một nhân vật siêng năng, cần mẫn, nhưng tính cách ba phải, không dám đấu tranh chống lại những thói xấu do sư huynh mình là Trư Bát Giới gây ra. Tại hồi 27, khi Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh bị Bát Giới gièm pha, Sa Tăng dù biết lẽ phải thuộc về Ngộ Không nhưng vẫn không dám can ngăn Tam Tạng, rốt cuộc Ngộ Không bị đuổi về Hoa Quả Sơn. Vì vậy nên trong hồi 31, khi Bát Giới đến mời Ngộ Không đi cứu sư phụ, gặp lại Sa Tăng, Ngộ Không mới nói với Sa Tăng rằng:
| “ | Cái chú sa ni này! Lúc sư phụ niệm chú khẩn cô nhi, sao chú không nói giúp tôi một câu? Chỉ rặt khua môi múa mép! Bảo vệ sư phụ, sao không sang phương Tây đi, còn ngồi đây làm gì[5]? | ” |
Thành chính quả [sửa]
Sau khi thỉnh được chân kinh, Sa Tăng được phong làm Kim Thân La Hán (La Hán Mình Vàng)[6].
Chú thích [sửa]
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập I, 2007, tr.10
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập I, 2007, tr.423
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập I, 2007, tr.429
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập II, 2007, tr.738
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập I, 2007, tr.597
- ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, Tập II, 2007, tr.946
Tham khảo [sửa]
- Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, NXB Văn học, 2007.