Shin Seiki Evangelion

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.
Neon Genesis Evangelion
NGE.jpg
新世紀エヴァンゲリオン
(Shin Seiki Evangerion)
Thể loại Mecha, Drama, Tận thế/hậu tận thế, Tâm lý, Khoa học kỳ ảo
Anime
Đạo diễn Anno Hideaki
Kịch bản Anno Hideaki
Âm nhạc Sagisu Shiro
Hãng phim Gainax, Tatsunoko Production
Cấp phép
  • Cờ của CanadaFlag of the United States Section23 Films
  • Cờ của Úc Madman Entertainment
  • Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Proware Multimedia International
Phát sóng Ngày 04 tháng 10 năm 1995Ngày 27 tháng 3 năm 1996
Số tập 26
Manga
Tác giả Sadamoto Yoshiyuki
Nhà xuất bản Kadokawa Shoten
Tạp chí Young Ace
Phát hành Ngày 26 tháng 12 năm 1994 – nay
Số tập 12
Movies
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Shin Seiki Evangelion (新世紀エヴァンゲリオン) hay Neon Genesis Evangelion (thường được gọi tắt là NGE, EVA, Evangelion), là một trong những anime nổi tiếng nhất ở Nhật Bản, thường xuyên có mặt trong top 10 những anime hay nhất mọi thời đại [1][2][3] mặc dù đã phát hành hơn 19 năm trước. Có thể nói NGE là anime thành công nhất của hãng GAINAX nói chung và Anno Hideaki nói riêng (Anno là một trong những người sáng lập hãng GAINAX).

Ngoài ra GAINAX còn tiến hành chuyển thế loạt anime này thành nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Như các loạt manga để tạo tiếng vang trước khi phát hành anime cũng như sau khi phát hành anime. Và 5 game cũng đã được phát hành cho hệ máy PC, PS1, và PS2, với các nhân vật quen thuộc nhưng nội dung thay đổi. NGE cũng góp mặt trong nhiều phiên bản của trò chơi Super Robot Taisen. Những EVAs đều có "AT Field", một đặc điểm của mecha từ NGE. GAINAX cũng đang thực hiện bộ tứ bốn bộ phim anime làm lại của loạt anime này với việc trau chuốt lại hình ảnh cũng như thêm vào các nhân vật mới.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 2000, một phần thế giới đã bị phá hủy bởi một sinh vật gọi là ADAM, sự kiện này gọi là "2nd IMPACT". Ikari Shinji là một cậu bé mồ côi mẹ, và rất ghét cha mình, người mà Shinji đã không gặp trong nhiều năm. Một hôm vào năm 2015, Shinji nhận được lệnh của cha và đến Neo Tokyo-3. Shinji chứng kiến một sinh vật khổng lồ gọi là ANGEL tấn công thành phố; cậu được một phụ nữ tên là Misato đón và đưa đến một căn cứ bí mật dưới lòng đất gọi là NERV, nơi mà cha cậu đang là chỉ huy. Shinji được lệnh phải lái một robot để chiến đấu chống lại ANGEL, và cậu không đồng ý. Tuy nhiên khi chứng kiến Ayanami Rei, một cô gái nhỏ nhắn đang bị thương tích đầy mình phải vào buồng lái, Shinji chấp nhận thay thế và trèo vào robot EVA để chiến đấu chống lại ANGEL.

Tuy nhiên, NGE không phải nói về những anh hùng cứu trái đất khỏi những kẻ xâm lược, và sau mỗi tập phim, chiến thắng không đem lại niềm vui mà là sự kinh hoàng và đau đớn. Các nhận vật không muốn bị ném ra nơi mà họ có thể chết bất kỳ lúc nào nhưng họ bị bắt buộc phải làm vì chỉ có họ mới có khả năng chiến đấu với các ANGEL và nếu họ không muốn chiến đấu thì cả thế giới sẽ chết cũng như sẽ bị đỗ lỗi về sự hủy diệt đó đơn giản vì họ có thể làm nhưng lại không muốn làm mà không cần biết các nhân vật cảm giác ra sao. Vô số thông điệp nằm rải rác trong anime muốn nhắn nhủ rằng kẻ thù của loài người chính là loài người, và chúng ta đang đi trên con đường tự hủy diệt mình. Mỗi nhân vật trong phim là một trường hợp bị chấn động tinh thần nặng. Đạo diễn Anno đã thú nhận rằng mình viết kịch bản trong lúc đang bị tâm thần, và chính ông nói rằng "không hiểu tại sao NGE lại nổi tiếng đến thế trong khi tất cả các nhân vật đều điên loạn".

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Shinji[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên: Ikari Shinji
  • Tuổi: 14
  • Sinh nhật: 6/6/2001
  • Quốc tịch: Cờ của Nhật Bản
  • Màu tóc: Nâu
  • Seiyuu: Ogata Megumi (nữ)
  • Lí lịch: Con trai của Ikari Gendo và Ikari Yui (Ikari là họ của Yui). Mẹ của Shinji là Yui đã chết khi Shinji còn nhỏ, và cha cậu là Gendo bỏ rơi cậu để tập trung vào công việc nghiên cứu của ông ta. Shinji là một người hoàn toàn không có tự tin, dũng khí, hay cá tính. Cậu chỉ muốn chạy trốn khỏi thế giới xung quanh. Tuy nhiên, như mọi đứa trẻ khác, Shinji muốn được mọi người xung quanh quan tâm và công nhận mình.
  • Mecha: Shinji là phi công của EVA số 01. EVA#01 có linh hồn là mẹ của Shinji, và mỗi khi Shinji mất quyền kiểm soát, EVA#1 khởi động "Berserk Mode", và tự hoạt động.

Rei[sửa | sửa mã nguồn]

Rei Ayanami và Pen Pen
  • Tên: Ayanami Rei
  • Tuổi: ?
  • Sinh nhật: ?
  • Quốc tịch: Cờ của Nhật Bản
  • Màu tóc: Xanh
  • Seiyuu: Hayashibara Megumi
  • Lí lịch: Rei là một cô bé ít nói và bí ẩn, hầu như không thể hiện cảm xúc. Cô chỉ làm tất cả những gì mà Ikari Gendo nói, người mà Rei quí mến và kính nể. Trái với Asuka và Shinji, Rei sống một mình trong một căn phòng không có giấy dán tường, chỉ có một chiếc giường nhỏ, một tủ lạnh nhỏ chứa đầy thuốc và bông băng dính máu. Cô chỉ ăn ramen với hành lá, và là người không màng đến vật chất. Niềm vui duy nhất của Rei là làm tốt lệnh của chỉ huy Gendo và được khen ngợi. Shinji cảm thấy mình đặc biệt có tình cảm với Rei. Sau này chúng ta được biết Rei trong suốt anime là Rei II, và cô là nhân bản thứ 2 của mẹ của Shinji, Yui. Điều này giải thích tình cảm kỳ lạ giữa Rei, Shinji, và Gendo.
  • Mecha: Rei là phi công của EVA số 00. EVA#00 có linh hồn được lấy từ những bản sao dự phòng của Rei. Do là phiên bản đầu tiên nên EVA#00 yếu nhất trong các EVAs, nhưng Rei là một phi công không biết sợ là gì và luôn làm theo mệnh lệnh, dù là đi vào chỗ chết.

Asuka[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên: Sohryu Asuka Langley
  • Tuổi: 14
  • Sinh nhật: 4/12/2001
  • Quốc tịch: Cờ của Đức
  • Màu tóc: Đỏ
  • Seiyuu: Miyamura Yuko
  • Lí lịch: Con gái của nhà khoa học nữ Sohryu Kyoko Zeppelin. Mẹ của Asuka đã gặp tai nạn trong quá trình nghiên cứu và bị điên, tự sát. Asuka là một thần đồng và có bằng đại học khi mới 14 tuổi. Cô luôn tự tin vào tài năng của bản thân, đố kỵ với Rei, và coi thường Shinji. Tuy nhiên, đó chỉ là lớp vỏ bọc để cô che đậy linh hồn yếu đuối của mình, và khi Shinji thể hiện tài năng của mình và trở thành phi công giỏi hơn, Asuka mất đi chỗ bấu víu vào cuộc sống và đi theo con đường của mẹ cô.
  • Mecha: Cũng lòe loẹt như phi công của nó, EVA số 02 có màu đỏ rực. EVA#02 có linh hồn là mẹ của Asuka.

Misato[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên: Katsuragi Misato
  • Tuổi: 29
  • Sinh nhật: 8/12/1986
  • Quốc tịch: Cờ của Nhật Bản
  • Màu tóc: Xanh đen
  • Seiyuu: Mitsuishi Kotono
  • Lí lịch: Một sĩ quan của NERV, bạn của Akagi Ritsuko và là người yêu cũ của Kaji Ryoji. Misato là con gái của một nhà khoa học. Cô đã ở lục địa Antarctica khi "2nd IMPACT" xảy ra (lúc đó 14 tuổi), và cha của Misato đã bỏ cô vào một chiếc ống để cứu mạng cô. Misato sống sót nhưng bị chấn thương thần kinh nặng. Sau khi hồi phục, cô quen với Kitsuko và Kaji ở đại học, và theo lời của Ritsuko thì Misato đã ở trên giường với Kaji trong mấy tuần liền để "bù đắp quãng thời gian đã mất". Misato là người bảo hộ cho Shinji và Asuka, rất thích uống bia, hút thuốc, và lái xe như điên.
  • Thú nuôi: Misato nuôi một con chim cánh cụt là Pen Pen, cho ngủ trong tủ lạnh.

Tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Angel Attack!
  • Unfamiliar Ceiling
  • The Phone That Never Rings (A Transfer)
  • Rain, Escape and Afterwards
  • Rei, Beyond Her Heart
  • Showdown in Tokyo-3
  • The Human Creation
  • Asuka Strikes!
  • Both of You, Dance Like You Want to Win!
  • Magmadiver
  • In the Still Darkness
  • The Value of a Miracle is...
  • Angel Invasion
  • SEELE, Throne of Souls
  • Lie and Silence
  • Sickness Unto Death and...
  • The Fourth Child
  • The Judgement of Life
  • A Man's Fight
  • Form of the Mind, Form of the Man
  • The Birth of NERV
  • At Least, be a Human
  • Tear
  • The Final Messenger
  • The End of the World
  • The Beast That Shouted I at the Heart of the World
  • After the End
  • Death
  • Rebirth
  • Air
  • My Pure Heart For You

Bài hát trong phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mở đầu: Zankoku na Tenshi no Tēze" (Thesis of a Cruel Angel)
  • Movie: "Komm, süsser Tod" (Come, Sweet Death)
  • Kết thúc: "Fly Me to the Moon" (Ca khúc này do Bart Howard viết, đã được nhiều ca sĩ hát như Frank Sinatra. Trong anime NGE cũng có nhiều bản khác nhau, nhưng phiên bản chính do Claire Littley thể hiện)
Lời: Xem Fly Me to the Moon trên UTube
Fly me to the moon
And let me play among the stars
Let me see what spring is like
On Jupiter and Mars
In other words
Hold my hand
In other words
Darling kiss me
Fill my heart with song
And let me sing for evermore
You are all I long for
All I worship and adore
In other words
Please be true
In other words
I love you

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Anime đã được đánh giá rất cao bởi dư luận và đa phần khán giả, tuy nhiên một số fan đặc biệt ghét NGE bởi tính triết lý quá đáng và nội dung u tối của nó. Hai tập cuối của NGE đặc biệt bị các fan hâm mộ lên án là "kết thúc gì mà kỳ cục và dở tệ", tuy nhiên GAINAX đã công chiếu bộ phim The End of Evangelion trên cinema một năm sau đó, và mọi người mới hiểu ra rằng GAINAX đã cố tình làm 2 tập cuối của anime như vậy để kéo khán giả đến rạp xem phim, và kết quả là đạo diễn Anno Hideaki nhét thêm tiền vào nhà băng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đứng 1 trong top 10 anime do "Japan Media Arts Festival" lần thứ 10 bầu chọn, hơn 80000 người hâm mộ bình chọn Top 100 popular anime.
  2. ^ Đứng 2 trong top 100 anime do "TV Asahi" bầu chọn năm 2006 Top 100 popular anime.
  3. ^ Đoạt giải "Anime hay nhất trong năm" 3 lần liên tiếp (1995, 1996, 1997) của tạo chí Animage Trang web của Animage

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]