Stephen Crane

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Stephen Crane

Stephen Crane (1 tháng 11 năm 1871 – 5 tháng 6 năm 1900) là một nhà văn, nhà thơ Mỹ đại diện của trường phái ấn tượng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Stephen Crane sinh ở Newark, New Jersey. Bố là mục sư, mất khi Crane mới 10 tuổi. Năm 1888, sau khi học xong trung học, Crane vào học Lafayette College, sau đó học Đại học Syracuse. Crane viết báo, bắt đầu từ năm 15 tuổi, và thích môn bóng chày. Năm 1891 mẹ mất, Crane đến New York thuê nhà ở, làm phóng viên của báo New York Tribune và viết bài cho một số báo khác. Năm 1893 viết cuốn Maggie: A Girl of the Streets (Maggie: Cô gái của đường phố). Các nhà xuất bản từ chối in nên Crane bỏ tiền của mình ra in và lấy bút danh Johnston Smith. Sách bán không chạy nhưng được các nhà phê bình Hamlin GarlandWilliam Dean Howells khen ngợi. Cũng trong thời gian này Crane sáng tác nhiều thơ. Tập thơ The Black Riders and Other Lines (Những kị sĩ đen và những dòng khác, 1895) sử dụng thể thơ tự do của Walt Whitman với lối thơ cô đọng. Cùng với thơ, Crane viết Dấu hiệu đỏ của lòng dũng cảm (The Red Badge of Courage) là cuốn sách nổi tiếng thế giới. Cho đến nay vẫn được coi là cuốn tiểu thuyết hay nhất viết về Nội chiến Hoa Kỳ. Cuốn sách này sau được in trong các số báo, mang lại cho tác giả tiếng tăm và tiền bạc.

Năm 1895 Crane đi về các tiểu bang miền Tây nước Mỹ và Mexico. Năm 1896 sang Cuba. Ngày 2 tháng 2 năm 1897 con tàu mà Crane đi bị chìm trên biển, Crane may mắn thoát được vào bờ. Năm 1897, Crane làm phóng viên chiến trường trong Chiến tranh Hy Lạp – Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi chiến tranh kết thúc, Crane đi sang Anh. Những năm cuối đời, Crane bị bệnh lao nhưng vẫn phải làm việc vì mắc nợ nhiều. Năm 1900 ông phải đọc cho người khác chép cuốn tiểu thuyết cuối cùng The O'Ruddy. Ông mất ở khu nghỉ mát Badenweiler, Đức năm 1900. Thơ của Stephen Crane gần đây được dịch nhiều sang tiếng Việt.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Maggie: A Girl of the Streets (Maggie: Cô gái của đường phố)
  • The Black Riders and Other Lines (Những kị sĩ đen và những dòng khác, 1895)
  • The Red Badge of Courage (Dấu hiệu đỏ của lòng dũng cảm)
  • The Blue Hotel (Khách sạn màu xanh, 1895) phóng sự
  • George's Mother (Mẹ của George, 1896), tiểu thuyết
  • The Third Violet (Màu tím thứ ba, 1896), tiểu thuyết
  • The Open Boat and Other Tales of Adventure (Biển mở và những câu chuyện phiêu lưu khác, 1898), truyện
  • War is kind (Chiến tranh là tốt, 1899), thơ
  • The Monster and Other Stories (Quái vật và những câu chuyện khác, 1899), truyện
  • Wounds in the Rain (Vết thương trong mưa, 1900), truyện
  • Whilomville Stories (Những câu chuyện Whilomville, 1900), truyện
  • The O'Ruddy, tiểu thuyết

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

107
Tell me why, behind thee,
I see always the shadow of another lover?
Is it real
Or is this the thrice-damned memory of a better
happiness?
Plague on him if he be dead
Plague on him if he be alive
A swinish numbskull
To intrude his shade
Always between me and my peace
 
108
And yet I have seen thee happy with me.
I am no fool
To pole stupidly into iron.
I have heard your quick breaths
And seen your arms writhe toward me;
At those times
-God help us-
I was impelled to be a grand knight
And swagger and snap my fingers,
And explain my mind finely.
Oh, lost sweetheart,
I would that I had not been a grand knight,
I said: "Sweetheart."
Thou said'st: "Sweetheart."
And we preserved an admirable mimicry
Without heeding the drip of the blood
From my heart.
 
109
I heard thee laugh,
And in this merriment
I defined the measure of my pain;
I knew that I was alone,
Alone with love,
Poor shivering love,
And he, little sprite,
Came to watch with me,
And at midnight
We were like two creatures by a dead camp-fire.
107
Em yêu, tại vì sao sau lưng em
Anh luôn thấy chiếc bóng người tình ngày trước?
Chẳng lẽ điều này có thực
Hay đấy là kí ức đáng nguyền rủa gấp ba
Của hạnh phúc ngày qua?
Bệnh dịch cho hắn ta, nếu đã chết
Bệnh dịch cho hắn ta, nếu còn sống sót
Cái bị thịt
Bám vào chiếc bóng thường xuyên
Giữa anh và sự tĩnh lặng của anh!
 
108
Dù sao thì em vẫn hạnh phúc với anh
Anh đâu phải thằng đần
Để mà dại dột đập đầu vào sắt
Anh nghe ra cõi lòng em thổn thức
Và nhìn đôi bàn tay run rẩy hướng về anh
Từng có một thời gian
Chúa phù hộ cho chúng mình
Người ta muốn anh trở thành quí tộc
Với vẻ ngạo mạn coi người như rơm rác
Tao nhã nói ra những ý nghĩ của mình.
Than ôi, người yêu đã mất của anh
Anh không thể nào trở thành quí tộc
Anh nói "Em yêu"
Em nói: "Anh yêu"
Và ta bắt chước những người cao thượng
Mà không để ý gì đến dòng máu nóng
Chảy ra từ trái tim anh.
 
109
Anh nghe tiếng em cười
Nghe ra trong niềm vui
Bề sâu cõi lòng anh đau đớn
Anh biết rằng anh còn lại một mình
Một mình với tình yêu của mình
Tình run rẩy và tội nghiệp
Chỉ một tình yêu nhỏ nhặt
Bay đến cùng anh lúc nửa đêm
Ta giống như hai sinh linh
Bên đống lửa trong đêm đã tắt.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]