Tàu ngầm Kiểu XXI

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
U3008.jpg
Tàu ngầm U-3008
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: U-boat Kiểu XXI
Hoàn tất: 118
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Tàu ngầm
Trọng tải choán nước:
  • 1.621 tấn khi nổi
  • 2.100 tấn khi lặn
Độ dài: 76,7 m
Sườn ngang: 8 m
Mớn nước: 5,3 m
Động cơ đẩy:
  • Động cơ Điện-Diesel
  • 2 động cơ diesel siêu tăng áp 6 xy lanh MAN M6V40/46KBB 4.000 PS (2,9 MW)
  • 2 mô tơ cơ điện hoạt động kép SSW GU365/30 5.000 PS (3,7 MW)
  • 2 mô tơ điện hoạt động im lặng SSW GV232/28 226 PS (0,166 MW)
  • 2 chân vịt
Tốc độ: Khi nổi:
  • 15,6 kn (28,9 km/h) động cơ diesel
  • 17,9 kn (33,2 km/h) động cơ điện
  • Khi lặn:
  • 17,2 kn (31,9 km/h) động cơ điện
  • 6,1 kn (11,3 km/h) mô tơ điện không gây tiếng ồn
Tầm xa: Khi nổi:
  • 15.500 nmi (28.700 km) với 10 kn (19 km/h)
  • Khi lặn:
  • 340 nmi (630 km) với 5 kn (9.3 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
57 hoa tiêu và thủy thủ
Vũ trang:
  • 6 ống phóng ngư lôi
  • 4 khẩu pháo 20 mm

Tàu ngầm U-boat Kiểu XXI cũng được biết đến như "Elektroboote", là loại tàu ngầm đầu tiên được thiết kế hoàn toàn cho việc lặn hơn là vệc nổi trên mặt nước nó có khả năng lặn xuống rất nhanh đồng nghĩa với việc có thể tránh được việc bị phát hiện cũng như nó có thể thực hiện việc tấn công bất ngờ.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Chìa khóa cho việc cải tiến của chiếc Kiểu XXI là khả năng nâng cấp số lượng ác quy mà nó có thể mang theo (hay chất lượng tích trữ điện của ác quy được cải tiến), gần như gấp ba lần tàu ngầm Kiểu 7C. Điều này cho phép tầm hoạt động dưới nước của loại tàu này tăng lên đáng kể cũng như việc nó giảm thời gian phải nổi trên mặt nước so với các loại tàu ngầm khác. Chúng có thể di chuyển dưới mặt nước với tốc độ năm knot (9 km/h) trong hai hay ba ngày trước khi phải thay ác quy việc mà sẽ phải mất đến gần năm tiếng sử dụng ống thông hơi lên mặt nước để chạy động cơ diesel. Kiểu XXI cũng hoạt động im lặng hơn Kiểu 7C khiến cho nó trở nên rất khó phát hiện khi đang lặn.

Tàu ngầm Kiểu XXI có hình dáng khí động học và vỏ tàu được mài nhẵn như mặt gương giúp nó có khả năng di chuyển với tốc độ cao khi lặn dưới nước. Khả năng chạy vượt qua các tàu nổi trên mặt nước cũng như khả năng lặn sâu xuống nhanh hơn khiến nó trở nên khó bị bắt kịp cũng như bị đánh chìm. Cũng như nó có khả năng tăng tốc đột ngột và chạy nhanh hơn tốc độ bình thường của mình để chạy thoát các cuộc tấn công hay cố gắng chiếm vị trí thuận lợi để tấn công càng nhanh càng tốt đây là đặc điểm mà các loại tàu ngầm cũ không có. Điều này khiến nó trở nên được chú trọng và thường xuyên hơn trong việc được giao các nhiệm vụ như đánh chìm tàu sân bay hay hộ tống các đoàn tàu vận chuyển.

Vào giữa 1943 đến 1945 đã có 118 chiếc tàu loại này được lắp ráp bởi Blohm & Voss của Hamburg, AG Weser của BremenF. Schichau của Danzig. Vỏ tàu được chế tạo bằng cách đúc thành 8 đoạn, công đoạn cuối cùng là lắp ráp chúng với nhau và sau đó mài nhẵn tại xưởng đóng tàu. Phương pháp đóng tàu mới này rút ngắn thời gian xuống chỉ còn sáu tháng cho mỗi tàu, tuy nhiên trên thực tế mỗi tàu được lắp ráp lại có vài vấn đề về kỹ thuật riêng vì thế chúng đòi hỏi phải được thực hiện các bước làm việc sau sản xuất riêng để có thể sửa các lỗi đó. Một trong những lý do đó là chúng được đóng bởi các công ty nội địa (đây là kết quả của sự lực chọn của Albert Speer), vì chúng có quá ít kinh nghiệm về đóng tàu. Kết quả là với 118 chiếc được đóng chỉ có 4 chiếc là có thể được mang ra chiến đấu trước khi chiến tranh kết thúc tại châu Âu.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

U-2511 và U-3008 là hai chiếc duy nhất thuộc loại này nhận nhiệm vụ đi tuần trong chiến tranh, và cả hai chiếc chưa hề đánh chìm được bất cứ con tàu nào. Chiếc U-2511 được chỉ huy bởi Korvettenkapitän Adalbert Schnee đã lách qua được hàng hộ tống dày đặc của chiếc tàu tuần dương thuộc hải quân hoàng gia Anh chiếc HMS Norfolk và đã đặc chiếc tàu này vào tầm ngắm của mình. Tuy nhiên hôm đó tín hiệu thông báo về sự đầu hàng của quân Đức đã đến được chiếc tàu ngầm này và Schnee đã lặn xuống đi bên dưới chiếc tuần dương hạm mà không bị phát hiện rồi quay trở về Đức.

Hầu hết các tàu loại này bị tháo rời hoặc bị đánh đắm, nhưng có tám chiếc đã được giao cho quân Đồng Minh dùng cho việc dạy và huấn luyện. Hoa Kỳ đã lấy hai chiếc U-2513 và U-3008 sau đó đã được biên chế vào hải quân Hoa Kỳ. Chiếc U-3017 được biên chế vào hải quân Hoàng gia Anh với tên HMS N41 và chiếc U-2518 trở thành tàu ngầm Pháp với tên Roland Morillot và tất cả điều hoạt động cho đến 1967.

Liên bang Xô Viết[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn chiếc tàu ngầm Kiểu XXI đã được giao cho phía Liên Xô bởi hiệp ước Potsdam, đó là các chiếc U-3515, U-2529, U-3035 và U-3041 sau đó chúng được biên chế vào hải quân Liên Xô với các tên B-27, B-28, B-29 và B-30,sau này có thêm B-100. Tuy nhiên tình báo phương Tây cho rằng Liên Xô còn sở hữu nhiều hơn thế. Việc này được đề cập tại cuộc họp của Ủy ban tình báo cho các tham mưu trưởng của Hoa Kỳ vào tháng một năm 1948 nó cho rằng vào thời điểm đó ước tính hải quân Liên Xô có tới 15 chiếc Kiểu XXI đang hoạt động và có thể đóng hoàn tất thêm 6 chiếc nữa trong vòng 2 tháng, cũng như có thể đóng thêm 39 chiếc nữa trong vòng một năm và một nửa trong số đó đã bắt đầu được đúc khi mà các nhà máy sản xuất các linh kiện cho loại tàu này và cả xưởng lắp ráp tàu tại Danzig đã bị Liên Xô chiếm cuối thế chiến thứ hai. Các chiếc có số hiệu từ U-3538 đến U-3557 chưa kịp hoàn thành vẫn được để ở Danzig và sau đó bị tháo dở hay đánh chìm vào 1947. Bốn chiếc tàu ngầm ghi trong hiệp ước Potsdam được sử dụng cho việc huấn luyện và thử nghiệm cho đến năm 1955. Sau đó chúng bị đánh đắm hay sử dụng cho các cuộc thử nghiệm vũ khí trong 1958 đến 1973. Hình dáng của loại tàu Dự án 614 của Liên Xố trên thực tế là bản sao của Kiểu XXI với nhiều đặc điểm được tích hợp thêm với loại tàu ngầm Dự án 613 (Được phương Tây biết đến như Tàu ngầm lớp Whiskey).

Tây Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc tàu ngầm Kiểu XXI thứ chín được nhìn thấy hoạt động sau chiến tranh là chiếc U-2540. Nó là chiếc đã bị đánh đắm nhưng được trục vớt lên năm 1957 và trở thành tàu ngầm nghiên cứu tên Wilhelm Bauer của hải quân Đức. Nó là chiếc Kiểu XXI duy nhất được trục vớt và trở thành mẫu tàu được trưng bày trong viện bảo tàng hàng hải Đức tại Bremerhaven, Đức.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]