Tân chính Kemmu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tân chính Kenmu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
日本国
Nippon-koku

Tân chính Kiến Vũ

1331–1338
 

Con dấu Hoàng gia của Tân chính Kemmu

Con dấu Hoàng gia

Thủ đô Kyoto
Ngôn ngữ Late Middle Japanese
Tôn giáo Shinbutsu shūgō
Chính thể Absolute monarchy
Thiên Hoàng
 - 1318-1339 Go-Daigo
Chinh di Đại tướng quân
 - 1333 Moriyoshi
 - 1335-1336 Narinaga
Lịch sử
 - Genkō War begins 1331
 - Cuộc vây hãm Kamakura 18 tháng 5, 1333
 - Ashikaga Takauji nắm bắt Kyoto 23 Tháng 2
Tiền tệ Ryō

Tân chính Kemmu (Nhật: 建武の新政; Hán-Việt: Kiến Vũ Tân chính; Kemmu no shinsei) là một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản diễn ra từ năm 1333 đến năm 1336.[1] Nó đánh dấu ba năm từ khi Mạc phủ Kamakura sụp đổ đến khi Mạc phủ Ashikaga ra đời, khi Thiên hoàng Go-daigo cố xác lập lại Đế quyền bằng cách lật đổ chế độ Mạc phủ.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến đầu thế kỷ 14, Mạc phủ Kamakura của gia tộc Hōjō đang ở trong tình thế lộn xộn-những nỗ lực để chống lại những cuộc xâm lược của Đế quốc Mông Cổ trong các năm 1274 và 1281 rất tốn kém, và Shogun không thể ban thưởng cho người đứng đầu các tỉnh đã tập hợp lại dưới trướng ông.

Năm 1318 Thiên hoàng Go-daigo thuộc chi thứ của Hoàng gia lên ngôi, nhưng miễn cưỡng phải thoái vị dưới sức ép của chi trưởng vì quyết tâm lật đổ Mạc phủ. Ông bị lưu đày năm 1331, và những người ủng hộ ông như các võ sỹ tại các tỉnh như Kusunoki Masahige tiếp tục đấu tranh, năm 1333, Mạc phủ bị tiêu diệt khi Ashikaga Takauji quay lưng lại với họ. Go-daigo trở về kinh đô Kyoto thuyết phục rằng những ngày của Shogun cùng những kẻ tiếm quyền khác đã qua và Thiên hoàng có thể lại thống trị không chỉ trên danh nghĩa mà cả thực quyền một lần nữa.

Tuy vậy, triều Go-daigo không hề có kinh nghiệm quản lý lẫn quyền lực tại các tỉnh để giải quyết thực tế của một xã hội do các võ sĩ làm chủ. Thiên hoàng Go-daigo từ chối bổ nhiệm Ashikaga Takauji làm Shogun (Chinh di Đại tướng quân) kể cả khi ông trực tiếp yêu cầu năm 1335, và khi ông giao tranh với Ashikaga Takauji năm 1336, kết quả không còn nghi ngờ gì nữa. Ông chạy về phương Nam, từ Kyoto đến Yoshino, trong khi Takauji thiết lập một Mạc phủ mới tại kinh đô Kyoto, gọi là Mạc phủ Muromachi, đánh bại những người trung thành còn lại trong trận đánh gần Kobe, và đưa một Thiên hoàng bù nhìn lên ngôi. Điều này mở đầu cho sự phân ly của hai nhánh thù địch trong Hoàng gia kéo dài cho đến năm 1392. Gia tộc Ashikaga của Takauji nắm ngôi Shogun trong suốt thời Muromachi.

Tân chính Kemmu thất bại, nhưng nó vẫn để lại tư tưởng về Đế quyền, cuối cùng sẽ chấm dứt kỷ nguyên thống trị của các Tướng quân vào năm 1868 với cuộc Minh Trị Duy Tân 5 thế kỷ sau đó.

Tân chính Kemmu trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuốn tiểu thuyết lịch sử hư cấu Romanitas của Sophia McDougall, Tân chính Kemmu trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử Nhật Bản, có thể sánh ngang với cuộc Minh Trị Duy Tân. Theo đó, Thiên hoàng Go-daigo đã có được (một cách bí mật) công nghệ thuốc súng từ Đế quốc La Mã vẫn còn tồn tại (và đang lên), và từ vào đó thách thức La Mã vì quyền thống trị thế giới trong những thế kỷ tiếp sau.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Kemmu" là tên một thời đại của Nhật Bản sau "Nguyên Hoằng" trong thời Nam-Bắc triều. Thời Kemmu được hiểu là những năm từ 1334 đến 1336 trước thời "Diên Nguyên", vì thời gian được tính toán theo Nam triều trong Nam-Bắc triều, và cùng lúc đó, thời Kiến Vũ còn được cho rằng kéo dài trong khoảng 1334 đến 1338 trước "Ryakuō", nếu thời gian được tính trong thời Nam-Bắc triều theo Bắc triều.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Titsingh, Isaac, ed. (1834). [Siyun-sai Rin-siyo, 1652], Nipon o daï itsi ran; ou, Annales des empereurs du Japon, tr. par M. Isaac Titsingh avec l'aide de plusieurs interprètes attachés au comptoir hollandais de Nangasaki; ouvrage re., complété et cor. sur l'original japonais-chinois, accompagné de notes et précédé d'un Aperçu d'histoire mythologique du Japon, par M. J. Klaproth. Paris. [Hai bản số hóa của cuốn sách hiếm này đã được chuyển lên mạng: (1) từ thư viên Đại học Michigan, số hóa ngày 30 tháng 1 năm 2007; và (2) từ thư viện Đại học Stanford, số hóa ngày 23 tháng 6 năm 2006 .]

< Kamakura period | History of Japan | Muromachi period >