Lịch sử quân sự Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lịch sử quân sự Nhật Bản mô tả cuộc chiến tranh phong kiến kéo dài nhằm tiến tới việc ổn định trong nước, sau đó cùng với việc viễn chinh ra bên ngoài cho tới khi phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Rồi lên đến cực điểm trong hai cuộc thế chiến và cuối cùng kết thúc với sự kiện Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Kể từ đó, hiến pháp Nhật Bản đã ngăn cấm việc sử dụng lực lượng quân sự để tiến hành chiến tranh với bất kỳ quốc gia nào khác.

Ngoại trừ tính từ lúc quân Đồng Minh chiếm đóng Nhật Bản sau Thế chiến II, theo các tài liệu lịch sử ghi nhận thì đảo quốc Nhật Bản chưa bao giờ bị một thế lực ngoại xâm nào xâm chiếm thành công hoàn toàn.

Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghiên cứu của giới khảo cổ học gần đây thì những cư dân ban đầu tại Nhật Bản đã biết sử dụng và chế tạo những công cụ bằng đá như mũi dao, mảnh lưỡi gươm, những cái nạo, lưỡi dao và rìu thông qua những di vật để lại trong những hang hốc con người ở và những bộ xương người được đào lên cho thấy vết tích của một cuộc chiến tranh sơ khai giữa các bộ tộc, bộ lạc khác nhau ở quần đảo Nhật Bản. Một số nhà lý luận tin rằng trong khoảng thời gian ngắn sau thời kỳ Yayoi ngựa được một số nhóm dân cư mang từ bán đảo Triều Tiên sang miền nam đảo Kyushu, sau đó dần dần lan rộng ra đến phía bắc đảo Honshu, Ngựa cưỡicông cụ bằng sắt lần đầu tiên được người Triều Tiên truyền bá và giới thiệu tại đảo quốc này.

Thời kỳ Jomon (10,000 – 300 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thời kỳ Jomon (khoảng 300 TCN) đã xuất hiện làng mạc và thị trấn được bao quanh bởi tường thành và các hàng rào bằng gỗ do bạo lực gia tăng trong hoặc giữa các cộng đồng dân cư, đôi khi có loại đường hào khô ráo và đường hào chứa nước xung quanh làng mở ra một loại hình thức thiết kế mới nhằm ưu tiên cho việc phòng thủ với các bộ tộc và cư dân thù địch. Một số thi thể đã được khai quật và tìm thấy những chấn thương mũi tên ở đầu và các bộ phận khác. Cư dân Nhật Bản thời kỳ này đã biết sử dụng các chủng loại vũ khí đa dạng trong các cuộc chiến đấu như kiếm, ná bắn đá, giáo, lao, cây cungmũi tên.

Thời kỳ Yayoi (300 TCN – 250)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng đầu thế kỷ thứ 3 TCN, hàng hóa bằng đồng và kỹ thuật chế tạo đồng được du nhập từ lục địa Châu Á vào Nhật Bản, Công cụ và vũ khí bằng sắt cũng như ngựa được giới thiệu vào Nhật Bản vào gần cuối thời kỳ này và đầu thời kỳ Yamato. Giới khảo cổ học phát hiện thấy vũ khí bằng đồng và sắt không được sử dụng cho mục tiêu chiến tranh mãi cho đến sau này, đặc biệt là vào đầu thời kỳ Yamato, vũ khí kim loại được tìm thấy từ phần còn lại dưới các chứng tích đào được lại không thích hợp để làm vũ khí. Việc chuyển đổi từ thời Jomon sang Yayoi, và sau đó đến thời kỳ Yamato, đánh dấu một tiến trình thay đổi bằng các cuộc chiến tranh bạo lực nhằm đẩy những người bản địa nhanh chóng rời đi để rồi được những kẻ xâm lược và công nghệ quân sự tối tân của họ thay thế dần.[1]

Khoảng thời gian này, theo ghi chép của các tài liệu lịch sử thì bắt đầu từ thời nhà Hán lần đầu tiên có nhắc đến sự tồn tại của vương quốc Oa (hay Wa trong tiếng Nhật), lúc bấy giờ người Nhật sống không thành một quốc gia thống nhất như Trung Quốc mà tách ra thành hơn một trăm cộng đồng nhỏ và sau thu gọn lại thành 30 tiểu quốc. Sau 70 – 80 năm, đảo quốc rơi vào cảnh rối loạn và chiến tranh liên miên Một tiểu quốc mà sử sách Trung Quốc quan tâm đến nhất là tiểu quốc được một nữ hoàng vừa là phù thủy có tên Pimiko (hay Himiko trong tiếng Nhật) thống trị. Nữ hoàng chính thức phái sứ thần tên là Nashomi sang cống nạp nô lệ và vải vóc và thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tào Ngụy thời Tam Quốc.

Cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Mũ và áo giáp sắt, được trang trí bằng đồng mạ vàng vào thời kỳ Kofun thế kỷ 5 tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo.

Vào cuối thế kỷ thứ 4, nhà nước sơ khai Yamato hình thành và định cư tại đồng bằng Nara với sự kiểm soát số lượng lớn các khu vực xung quanh, những người cai trị Yamato còn thực hiện việc trao đổi đại diện ngoại giao với ba nước ở bán đảo Triều Tiên vào thời Tam Quốc Triều Tiên và các vương triều phong kiến ở Trung Quốc. Theo ghi chép của bộ Sử ký Nhật Bản đã khẳng định nhà nước Yamato có thực lực rất mạnh đủ để gửi quân chống lại sự bành trướng của vương quốc Cao Câu Ly hùng mạnh đang thống trị bán đảo Triều Tiên vào thời điểm đó.

Triều đình Yamato còn có mối quan hệ chặt chẽ với vương quốc Bách Tế ở vùng Tây Nam bán đảo, thông qua sự giao lưu văn hóa với nhau mà Yamato đã du nhập Phật giáo và chữ viết Trung Quốc từ bán đảo Triều Tiên để từ đó dẫn tới sự biến đổi mãnh liệt của nền văn minh Nhật Bản. Khi Bách Tế cầu xin sự giúp đỡ quân sự của Yamato thì vương quốc này đã bị liên minh nhà Đường Trung Quốc và Tân La đánh bại tại trận Baekgang vào năm 663. Kết quả là người Nhật bị xua đuổi khỏi bán đảo Triều Tiên. Để bảo vệ quần đảo Nhật Bản, triều đình Yamato đã cho xây dựng một loạt căn cứ quân sự tại Dazaifu, Fukuoka tại đảo Kyushu.

Gần cuối thời kỳ Heian, các samurai đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh mẽ, vì vậy Nhật Bản bắt đầu chuyển sang thời kỳ phong kiến.

Thời kỳ Yamato (250 – 710)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản cổ đại có mối quan hệ chặt chẽ với Liên minh Gaya và vương quốc Bách Tế ở bán đảo Triều Tiên. Liên minh Gaya cũng tiến hành trao đổi và buôn bán hàng hóa với số lượng áo giáp sắt và vũ khí dồi dào sang nước Wa.

Năm 552, vua của Bách Tế ở Triều Tiên đã cầu viện triều đình Yamato gửi quân giúp họ chống lại kẻ thù lân cận là vương quốc Tân La và đồng minh nhà Đường ở Trung Quốc. Nhà vua này có gửi đến triều đình Yamato một tượng Phật bằng đồng và vàng cùng một số kinh điển Phật giáo và một bức thư ca ngợi Phật giáo. Những món quà này đã gây ra sự chuyển biến sâu sắc về tôn giáo và mối quan tâm mạnh mẽ của Nhật Bản về Phật giáo.

Trận Baekgang (白 村 江, Bạch Tôn Giang) diễn ra vào năm 663, gần kết thúc của thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên. Theo tài liệu Sử ký Nhật Bản cho biết Yamato đã gửi 32.000 quân và 1.000 tàu chiến để hỗ trợ Bách Tế chống lại liên minh quân sự Tân La-Đường. Tuy nhiên, hạm đội Tân La-Đường đã chặn lại và đánh bại hạm đội tàu chiến này cùng lúc. Bách Tế đứng trước nguy cơ thiếu viện trợ và bị lực lượng Tân La và nhà Đường bao vây trên đất liền, đã bị tiêu diệt. Một nước Tân La thù địch tiến hành ngăn cản Nhật Bản có thêm bất kỳ sự liên hệ có ý nghĩa nào với bán đảo Triều Tiên mãi cho đến sau này. Người Nhật liền sau đó chuyển mối quan hệ ngoại giao và thông thương trực tiếp sang Trung Quốc.

Thời kỳ Nara (710 -784)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Nara chính là sự khởi đầu của văn hóa và nền văn minh Nhật Bản. Trong giai đoạn này, cũng như nhiều dân tộc khác ở Á Đông, người Nhật chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa Trung Hoa. Nhật Bản lần đầu tiên hình thành và phát triển Phật giáo, hệ thống chữ viết Trung Quốc, và lễ trà. Các tiểu quốc xung quanh được thống nhất thành một nhà nước trung ương tập quyền hùng cường, bắt đầu xuất hiện nền tảng cơ bản của hệ thống phong kiến.

Trong khi phần lớn kỷ luật, vũ khí, áo giáp, và kỹ thuật của các samurai chưa thực sự phát triển nhưng các chiến binh phong kiến Nhật Bản đã sớm hình thành bao gồm các đơn vị quân sự như cung thủ, kiếm sĩ, và lính cầm thương, đa số vũ khí và trang thiết bị đều mang đậm dấu ấn của Trung Quốc.

Các cuộc tranh chấp nội bộ trong triều đình hoàng gia khá phổ biến trong thời kỳ Nara và bắt đầu xuất hiện vị Tướng quân đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, Otomo Yakamochi.

Thời kỳ Heian (794 – 1185)[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ cuộc chiến tranh Genpei (vào thế kỷ 17).

Quân sự Nhật Bản vào thời kỳ Heian, chủ yếu bao gồm các cuộc xung đột và những trận đánh giữa các gia tộc samurai đầy quyền lực chính trị và có sức ảnh hưởng lớn, đặc biệt là các cuộc giao chiến nhằm giành quyền thừa kế ngôi vị hoàng đế của Thiên hoàng.

Các Thiên Hoàng và triều đình luôn phải đấu tranh chống lại sự kiểm soát chuyên quyền của gia tộc Fujiwara, mà hầu như chỉ độc quyền giữ chức vụ nhiếp chính (Sesshō và Kampaku). Việc cai quản chính quyền bằng quan nhiếp chính trở thành luật lệ. Triều đình mất thực quyền kiểm soát đất nước, chỉ còn nắm vai trò đại diện. Phúc lợi công cộng bị coi nhẹ. Người đứng đầu các tỉnh trở nên tham nhũng và lười nhác. Chủ nhân của các khu trang ấp (shoen) thành lập các nhóm võ sĩ để tự vệ, tạo ra sự mở đầu của hệ thống samurai (võ sĩ, cận vệ có vũ trang) và sự xuất hiện của lực lượng tăng binh. Các cuộc xung đột phong kiến về đất đai, chính trị, quyền lực, và ảnh hưởng cuối cùng lên tới đỉnh điểm trong chiến tranh Genpei giữa gia tộc TairaMinamoto, cùng một số lượng lớn các gia tộc nhỏ hơn liên minh với bên này hoặc bên kia. Sự kết thúc của Chiến tranh Genpei đánh dấu chấm dứt thờ kỳ Heian và bắt đầu thời kỳ Kamakura.

Trong thời gian này, samurai vẫn còn ở dạng sơ khai, chủ yếu ban đầu các samurai bắt nguồn từ các kỵ binh, bộ binh và cung binh ở Nhật vào thế kỷ thứ 6, trước khi hình thành một tầng lớp kiếm sĩ mới như sau này. Gần như tất cả các trận giao chiến trong thời kỳ Heian, trước khi giao chiến giữa hai bên, cung thủ sẽ bắn một loạt tên được tẩm lửa vào quân đối phương, sau đó bộ binh xông lên phía trước với vũ khí cơ bản là kiếm và dao găm, tiến hành đánh giáp lá cà với quân đối phương.

Các cuộc xung đột thế kỷ 12, đặc biệt là cuộc chiến tranh Genpei, và sự kiện thiết lập Mạc phủ Kamakura sau đó, đánh dấu sự nổi lên của tầng lớp quý tộc samurai ở triều đình (公家, Kuge, Công Gia). chế độ Mạc phủ, về cơ bản là chính phủ quân sự, thống trị nền chính trị Nhật Bản trong gần bảy trăm năm (1185-1868), phá vỡ quyền lực của Hoàng đế và của triều đình.

Quân sự nói chung vào thời kỳ này cũng đánh dấu một sự thay đổi quan trọng từ một nhà nước được thống nhất trong hòa bình tương đối chống lại các mối đe dọa bên ngoài, không còn sợ hãi các thế lực ngoại xâm vào xâm chiếm và thay vào đó tập trung vào việc phân chia nội bộ và các cuộc đụng độ, xung đột và mâu thuẫn nội bộ giữa các phe phái xã hội. Ngoại trừ những cuộc xâm lược của quân Mông Cổ của thế kỷ 13, Nhật Bản không còn phải lo đối mặt với mối đe dọa đáng kể từ bên ngoài cho đến khi có sự xuất hiện của người Châu Âu vào thế kỷ 16. Như vậy, lịch sử quân sự trước hiện đại của Nhật Bản chủ yếu được xác định không phải bởi cuộc chiến tranh với các quốc gia khác, mà thường chủ yếu là do các cuộc xung đột nội bộ và tranh chấp quyền lực trong triều đình.

Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự chuyển hướng từ các trận chiến được thực hiện trên lưng ngựa, chuyển sang một loạt những cuộc xung đột với quy mô lớn giữa các gia tộc nhằm giành lấy quyền kiểm soát Nhật Bản. Trong thời kỳ Kamakura, Nhật Bản đẩy lui thành công cuộc xâm lược của quân Mông Cổ và bắt đầu thay đổi từ quân tình nguyện sang quân đội nhập ngũ với cốt lõi là samurai đóng vai trò như là một lực lượng ưu tú đồng thời còn chỉ huy quân đội. Sau gần năm mươi năm xung đột gay gắt nhằm giành quyền kiểm soát ngôi vị hoàng đế, thời kỳ Muromachi dưới thời Mạc phủ Ashikaga là một giai đoạn hòa bình ngắn ngủi trước khi hệ thống quản lý truyền thống của chính quyền thuộc triều đình sụp đổ. Thống đốc tỉnh và các quan chức khác thuộc chính phủ Hoàng gia chuyển đổi thành một tầng lớp daimyo mới (lãnh chúa phong kiến), đưa quần đảo vào tình trạng chia rẽ, mất ổn định và chiến tranh liên miên giữa các gia tộc và lãnh chúa phong kiến mới kéo dài suốt 150 năm tiếp theo.

Thời kỳ Kamakura (1185 – 1333)[sửa | sửa mã nguồn]

Samurai Suenaga chạm trán quân Nguyên-Mông trong chiến dịch Nguyên-Mông xâm lược Nhật Bản.Mōko Shūrai Ekotoba (蒙古襲来絵詞), circa 1293.

Sau khi khuất phục gia tộc Taira thù địch, gia tộc Minamoto chính thức thành lập Mạc phủ Kamakura vào năm 1185, mang lại một thời kỳ hòa bình yên ổn sau gần một thế kỷ chiến tranh và loạn lạc. Trong giai đoạn này chỉ có một trận chiến xảy ra giữa Nhật Bản, trước khi Mạc phủ sụp đổ, bao gồm đặc vụ của Minamoto nhằm mục tiêu đàn áp các cuộc nổi loạn chống lại Mạc phủ.

Vào thời gian này, người Mông Cổ đã thống nhất hoàn toàn Trung Quốc, thủ lĩnh Mông Cổ Hốt Tất Liệt lên ngôi Hoàng đế, thành lập nhà Nguyên, đóng đô tại Bắc Kinh, quân Nguyên Mông cố gắng đem quân xâm lược Nhật Bản hai lần vào thế kỷ thứ 13, đánh dấu sự kiện quân sự quan trọng của thời kỳ Kamakura. Vào đầu tháng 10 năm 1274, trận Bun'ei bắt đầu với một lực lượng hỗn hợp bao gồm quân Mông Cổ và Triều Tiên chiếm đóng đảo Tsushima, và sau đó tấn công Kyūshū, đổ bộ tại Vịnh Hakata. Ngày 19 Tháng 10, khi đang tiến quân thì bị một trận bão lớn đánh chìm mất nhiều tàu chiến buộc tàn quân còn lại phải rút lui. Nhằm chuẩn bị phòng thủ một cuộc tấn công thứ hai có thể xảy ra bất cứ lúc nào, Mạc phủ cho tiến hành xây dựng một dải tường thành và pháo đài dọc theo bờ biển, và tập hợp lực lượng bảo vệ nhằm ngăn chặn cuộc xâm lăng. Một nỗ lực xâm lược lần thứ hai tại trận Kōan vào năm 1281, lực lượng quân Mông Cổ một lần nữa lại bị bão đánh đắm một số lượng lớn hạm đội và tàu chiến, gây tổn thất nặng nề, khiến họ phải rút lui và từ đó về sau, không còn một cuộc xâm lược nào được tiến hành nữa.

Trang thiết bị, chiến thuật, và quan điểm quân sự của samurai và đối thủ Mông Cổ của họ khác nhau rất nhiều, và trong khi cả hai cuộc xâm lược thất bại thảm hại, ảnh hưởng và phát triển của họ đã thay đổi đáng kể cách thức tiến hành chiến tranh của các samurai. samurai vẫn gắn liền với những ý tưởng chiến đấu duy nhất, đó là trận chiến danh dự giữa cá nhân các chiến binh, và các yếu tố nghi lễ nhất định của trận chiến, chẳng hạn như một loạt cung thủ sẽ trao đổi tư cách đạo đức trước khi tiến hành cuộc chiến tay đối tay. Người Mông Cổ, tất nhiên, không biết gì về tục lệ của người Nhật, nhưng chiến thuật tấn công của họ có phần hữu hiệu hơn đối phương. Họ không lựa chọn tiến hành trận đấu danh dự giữa các cá nhân thường diễn ra phổ biến ở Nhật Bản lúc bấy giờ, mà thường tấn công trên lưng ngựa, với các loại súng khác nhau và cây cung Mông Cổ nổi tiếng bấy giờ, đột kích dữ dội vào hàng ngũ kẻ thù, mặc sức chém giết mà không cần quan tâm đến quan niệm về lễ nghi theo kiểu Nhật. Mặc dù kiểu cưỡi ngựa bắn cung và chiến đấu đóng vai trò chính yếu trong các cuộc chiến ở Nhật Bản cũng như tại thời điểm này, quân Mông Cổ ngày nay vẫn nổi tiếng về lòng can đảm và sức chiến đấu mạnh của kỵ binh và kỵ binh bắn cung.

Chiến thuật, thái độ và vũ khí của samurai cũng một phần bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những kinh nghiệm, và cách thức tiến hành chiến tranh của người Mông Cổ. Trong giai đoạn này người Nhật đã bắt đầu chuyển sang sử dụng vũ khí dài, tương tự như đại đao, gọi là naginata (trường đao) và dùng bộ binh thay vì kỵ mã để chiến đấu.

Thời kỳ Muromachi (1336 – 1467)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1331, Hoàng đế Go-Daigo phát động một cuộc nổi dậy mà sử sách thường gọi là chiến tranh Genko nhằm chống lại Mạc phủ đương thời. Sau một thời gian ngắn dưới sự cai trị thực sự của triều đình, năm 1336, Mạc phủ Ashikaga được thành lập, và một loạt các cuộc xung đột giữa Thiên hoàng và Mạc phủ cùng các gia tộc ủng hộ khác bắt đầu biến thành cuộc chiến tranh Nam Bắc triều (南北朝時代 | Nanbokuchō) kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ. Dù thành công trong nỗ lực chống quân Nguyên Mông giai đoạn trước, nhưng cuộc chiến với đối phương không cân sức đến từ lục địa đã đẩy đất nước tới những khó khăn và phân rã sau này, khi phải giải quyết những vấn đề của giai đoạn hậu chiến. Lòng dân ly tán, triều đình phân liệt. Bắc triều do Ashikaga Takauji thành lập ở Kyoto. Nam triều do Thiên hoàng Go-Daigo cai trị đầu tiên ở Yoshino (Nara). Giữa hai triều đình liên tục nổ ra những cuộc chiến nhằm duy trì và củng cố quyền lực, về sau Nam triều thất bại.

Trong giai đoạn này, các trận chiến lớn với số quân đông hơn, và ít nghi thức hơn. Mặc dù các trận giao chiến lẻ tẻ và các yếu tố khác của nghi lễ và chiến đấu danh giá vẫn còn tồn tại, tổ chức chiến lược và chiến thuật dưới quyền của các chỉ huy quân sự bắt đầu xuất hiện, cùng với đội hình tổ chức sâu rộng, lớn và phân chia trong quân đội. Kỹ thuật rèn kiếm bắt đầu xuất hiện trong thời kỳ này lưỡi dao, linh hoạt nhưng rất cứng và sắc nét; thanh katana, và vô số vũ khí tương tự hoặc liên quan đến lưỡi kiếm, xuất hiện vào thời gian này và sẽ thống trị vũ khí Nhật Bản mãi cho đến tận giữa thế kỷ 20. Kết quả là sự chuyển đổi của samurai từ cung thủ sang kiếm sỹ.

Thời kỳ Sengoku (1467 – 1603)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hơn một thế kỷ kể từ khi chấm dứt chiến tranh Nam Bắc triều, hòa bình được lập lại dưới sự kiểm soát tương đối yếu ớt của Mạc phủ Ashikaga giờ đây đang có nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh Onin. Trong gần mười năm chiến tranh kéo dài đã biến thủ đô Kyoto thành bãi chiến trường và nhiều thành phố khác bị tàn phá nặng nề.

Quyền lực của Mạc phủ và triều đình Thiên hoàng dần suy yếu, tạo cơ hội cho các thủ hộ (shugo) và đại danh (daimyo) nổi lên, các tổ chức tôn giáo như Ikko-Ikki cùng các lãnh chúa, gia tộc lớn, nhỏ trên toàn quốc bắt đầu lao vào một cuộc chiến đẫm máu, thôn tính lẫn nhau nhằm mở rộng lãnh thổ kéo dài suốt 150 năm trong lịch sử Nhật Bản được sử sách gọi là thời kỳ Chiến Quốc (戦国; Sengoku) sau thời kỳ Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc Cổ Đại. Có khoảng hơn một trăm lãnh thổ dưới sự cai trị của các gia tộc rơi vào vòng xoáy của chiến tranh và sát phạt đẫm máu, lần đầu tiên có sự xuất hiện của súng hỏa mai và người Châu Âu trên quần đảo Nhật Bản.

Rất nhiều sự kiện quan trọng và sự phát triển quan trong về lĩnh vực quân sự đã diễn ra trong giai đoạn này, từ những tiến bộ trong việc thiết kế lâu đài cho tới sự chiến thuật đột kích của kỵ binh, các chiến lược và chiến dịch có quy mô lớn ngày càng phát triển xa hơn nữa, với sự xuất hiện của những vũ khí mới đã thay đổi đáng kể cách thức tiến hành chiến tranh và cách chiến đấu của quân đội.

Thành phần quân đội thay đổi dần cùng với những chiến lược mới ra đời, đặc biện là sự xuất hiện của lính bộ binh đi chân đất ashigaru, được trang bị giáo dài (yari) đóng vai trò phối hợp tác chiến cùng với kỵ binh, cung thủ, và pháo thủ tạo thành một kiểu chiến thuật mới nâng sức chiến đấu của quân đội lên cao và có khả năng gây sát thương nặng nề cho đối phương. Chiến thuật vây hãm và kỹ thuật chế tạo vũ khí càng được cải thiện. Các trận hải chiến có phần thay đổi bằng cách sử dụng thuyền để di chuyển quân sĩ vào bên trong tầm bắn của cung tên hoặc súng hỏa mai, sau đó khi đã áp sát thuyền kẻ địch thì tiến hành chiến đấu cận chiến giữa hai bên tương tự như các trận hải chiến ở Châu Âu thời Trung Cổ.

Gia tộc Hōjō, cai trị xung quanh khu vực đồng bằng Kantō, là những người đầu tiên thiết lập mạng lưới gồm các lâu đài vệ tinh, và việc phối hợp các mặt phòng thủ và tấn công của lâu đài cùng sự yểm trợ của súng thần công. Gia tộc Takeda, dưới quyền lãnh đạo của Takeda Shingen, đã phát triển kiểu chiến thuật đội hình kỵ binh đột kích, tỏ ra khá hiệu quả khi sử dụng để tấn công bộ binh, bọc hậu, đánh dọc sườn và phá tan đội hình cùng uy hiếp tinh thần của quân đội đối phương mặc dù cuộc tranh luận vẫn tiếp tục đến ngày nay và sự phù hợp của thuật ngữ này khi so sánh chúng với kiểu đột kích của kỵ binh phương Tây. Thời kỳ này có vô số sự phát triển chiến lược và chiến thuật mới, cùng một số trận vây hãm trận lớn nhất và kéo dài nhất trong lịch sử thế giới trước hiện đại.

Thời kỳ Azuchi-Momoyama (1568 – 1600)[sửa | sửa mã nguồn]

Áo giáp Nanban của quân miền Tây vào thế kỷ 16.

Thời kỳ này được tên cho một lâu đài có tầm mức quan trọng, đánh dấu sự ra đời của súng cầm tay, sau khi tiếp xúc với người Bồ Đào Nha, thứ vũ khí mới này đã làm thay đổi cả chiến thuật và chiến lược, khiến cho các trận giao chiến ngày càng ác liệt và đẫm máu, không còn dựa vào chiến đấu cá nhân và những ảnh hưởng của các khái niệm về lòng dũng cảm và danh dự cá nhân.

Vào năm 1543, Súng hỏa mai được một nhóm người Bồ Đào Nha lưu lạc trên một chiếc thuyền Trung Quốc bị trôi dạt vào đảo Tanegashima ở phần cực nam đảo Kyushu giới thiệu và sử dụng lần đầu tiên ở Nhật Bản, mặc dù việc giới thiệu loại vũ khí mới này của họ tỏ ra không có hiệu ứng gì đặc biệt gây ấn tượng với người Nhật trong nhiều thập kỷ, mãi cho đến thập niên 1560, hàng ngàn loại vũ khí có sử dụng thuốc súng mới được các lãnh chúa và các gia tộc lớn nhỏ sử dụng phổ biến tại Nhật Bản, súng cầm tay bắt đầu có tác dụng và ảnh hưởng lâu dài về mặt chiến thuật và chiến lược trong các trận chiến tại Nhật Bản, cả cách bố trí quân đội, và kiến trúc lâu đài.

Trận Nagashino diễn ra vào năm 1575, khoảng 3000 lính cầm súng hòa mai do Oda Nobunaga chỉ huy ra lệnh tấn công hàng ngũ kỵ binh samurai của đối phương đang tiến gần vào trận địa đã bị đốn ngã hàng loạt và bị tiêu diệt hoàn toàn với thiệt hại khá nặng, là một trong những ví dụ chính chứng tỏ hiệu quả của loại vũ khí mới này. Tuy nhiên súng cầm tay có một số nhược điểm như độ chính xác không cao và thời gian nạp đạn quá lâu, lính cầm súng hỏa mai hoặc teppō (鉄 炮) trong tiếng Nhật, không phải lúc nào cũng chiếm ưu thế về hỏa lực và giành chiến thắng tuyệt đối trong các trận chiến, Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi, và một số tướng lãnh khác, đã phát triển nhiều kiểu chiến thuật mới cho phù với súng hỏa mai và có thể tận dụng tối đa lợi thế lớn nhất của nó trong khi giao tranh với quân thù. Tại Nagashino, Nobunaga re lệnh cho pháo thủ giấu đằng sau rào chắn bằng gỗ, có gắn gai lớn bằng gỗ để ngăn chặn kỵ binh, khi có hiệu lệnh nổi lên thì binh sĩ sẽ thay phiên nhau bắn một loạt đạn và nấp đằng tấm gỗ để nạp đạn lại và cứ thế tiếp tục quy trình này cho đến khi nào quân đội đối phương hoảng loạn và tan vỡ đội hình thì phát động toàn quân tổng tiến công.

Giống như ở Châu Âu, thuốc súng hầu như không thể tác chiến được khi trời đổ mưa, súng sẽ bị ướt và hỏa lực suy yếu, có thể gây nguy hiểm trong một số trận đánh. Tuy nhiên một trong những lợi thế chính của thứ vũ khí mới này là chỉ cần mất vài năm huấn luyện là đã có thể tác chiến được, lúc đầu mới du nhập chỉ có tầng lớp samurai mới được phép sử dụng súng, về sau do chiến tranh ngày càng lan rộng ra toàn quốc, một số lãnh chúa đã bắt đầu trang bị hàng loạt cho lính bộ binh, ngay cả những người lính bộ binh không được huấn luyện thường xuyên cũng có khả năng sử dụng được súng, trên chiến trường thì các samurai bị cản trở bởi thanh kiếm và cung tên mà họ mang theo, thường giao chiến theo kiểu chiến thuật đội hình bộ binh hoặc kỵ binh, có nhiệm vụ xông lên tuyến đầu đầu và giữ vững đội hình toàn quân, trong khi đó các ashigaru thì cầm súng và được bố trí, sắp xếp ở tuyến sau có nhiệm vụ phối hợp tác chiến và hỗ trợ phòng thủ. Một số chiến binh hoặc tăng binh của các giáo phái Phật giáo, bắt đầu sản xuất vũ khí trong các xưởng đúc thường được sử dụng để làm chuông đồng cho các chùa, Theo cách này, Ikkō-ikki là một nhóm nhà sư và tín đồ cuồng tín tôn giáo, đã sử dụng súng vào việc phòng thủ Ishiyama Honganji một trong những thánh đường kiêm pháo đài được bảo vệ tốt nhất cả nước. Ikki và một số chiến binh thuộc các phe phái tôn giáo khác nắm giữ quyền lực chính trị và quân sự đáng kể, và họ đã chiến đấu ác liệt trong một số trận chiến nhằm chống lại các lãnh chúa đầy uy quyền và những gia tộc samurai hùng mạnh có ý định đàn áp họ.

Mặc dù mầm móng của thời Chiến Quốc đã bắt đầu nổi lên kể từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh Onin vào năm 1467, chiến tranh dần phát triển lớn và xuất hiện thêm nhiều chiến thuật phức tạp hơn nữa, gần giữa và cuối thời Chiến Quốc, cục diện đã có sự thay đổi lớn, từ các cuộc sát phạt và thôn tính lẫn nhau giữa các lãnh chúa và gia tộc lớn khiến cho sự thống nhất ngày càng được hình thành, đầu tiên là Oda Nobunaga, sau đó Toyotomi Hideyoshi tiếp tục kế thừa, và cuối cùng là Tokugawa Ieyasu.

Khoảng năm 1592 đến 1598 Toyotomi Hideyoshi đã phát động một chiến dịch với quy mô lớn mà sử sách thường gọi là cuộc chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên, mục đích nhằm thôn tính bán đảo Triều Tiên, mở một con đường sang Trung Quốc lúc bấy giờ thuộc nhà Minh, sau khi vua Triều Tiên từ chối cho phép quân Nhật được hành quân qua nước này, Mặc dù quân đội Nhật Bản đã chiếm đóng gần như hầu hết lãnh thổ Triều Tiên, thậm chí tiến quân đến tận sông Áp Lục, nhưng về mặt thuỷ chiến thì lực lượng hải quân Nhật Bản lại bị Hải quân Joseon đánh bại. Ngoài ra, Trung Quốc còn gửi viện trợ quân sự và quyết định gửi quân sang phối hợp với quân Triều Tiên chống lại Nhật Bản. Sau khi Hideyoshi qua đời, năm 1598, Hội đồng Ngũ Nguyên lão ra lệnh cho đám tàn quân Nhật còn lại ở lại bán đảo Triều Tiên buộc phải rút lui toàn bộ về nước, chấm dứt chiến tranh.

Tokugawa Ieyasu, một trong những nhiếp chính trong hội đồng, nắm quyền kiểm soát hầu hết lực lượng quân sự của cựu lãnh đạo. Năm 1600 ông giành chiến thắng tại trận Sekigahara, sau ông đó ra sức củng cố sự cai trị và kiểm soát chặt chẽ các lãnh chúa và gia tộc quy thuận dưới quyền ông. Năm 1603, ông được nhận danh hiệu tướng quân, tuy vể mặt danh nghĩa chỉ đứng sau Thiên hoàng nhưng trên thực tế ông đã trở thành một nhà cai trị toàn bộ nước Nhật Bản, đồng thời còn thiết lập Mạc phủ Tokugawa và những quy chế ràng buộc chư hầu đã chấm dứt thời đại Chiến Quốc và bắt đầu bước vào thời kỳ Edo.

Thời kỳ Edo (1603 – 1867)[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn này tương đối ổn định và yên bình kéo dài suốt gần 300 năm, dưới sự thống trị của Mạc phủ Tokugawa. Đây là một nền hòa bình bị ép buộc, được duy trì thông qua một loạt các biện pháp làm suy yếu và khống chế các daimyo nhằm đảm bảo lòng trung thành của họ đối với Mạc phủ, đồng thời các tướng quân của dòng họ Tokugawa, sau khi tiêu diệt các đối thủ chống đối, đã thực hiện chính sách phi quân sự hóa xã hội bằng cách giới hạn việc sở hữu vũ khí, Mạc phủ còn ra lệnh hủy tất cả vũ khí, ngoại trừ các lâu đài trong những lãnh địa quyền quý là có quyền giữ lại. Ngoài ra các tướng quân Tokugawa cũng ngăn cấm người dân quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua chính sách "bế quan toả cảng", kiểm duyệt mọi sách vở nước ngoài nhất là những sách đề cập đến quân sự và tập trung nền ngoại thương của đất nước vào cảng Nagasaki xa xôi. Nền hòa bình dưới thời Tokugawa đã bị phá vỡ trong một khoảng thời gian ngắn trước khi bạo lực bùng nổ và những mâu thuẫn, xung đột với các phiên (han) ngày càng dâng cao trong những năm 1860, sau cùng các phiên dưới sự lãnh đạo của hai phiên chính là SatsumaChosu đã tiến hành cuộc chinh phạt và lật đổ Mạc phủ Tokugawa, dẫn đến công cuộc Minh Trị Duy Tân vào năm 1868 mãi mãi làm thay đổi toàn nước Nhật trong tương lai.

Trận vây hãm Osaka trong hai năm 1614-1615, do Toyotomi Hideyori, người kế thừa của Hideyoshi cùng với liên minh giữa các gia tộc và một số nhóm người thù địch phát động nhằm chống lại Mạc phủ Tokugawa. Đây thực sự là một trận chiến samurai với quy mô lớn, về mặt chiến thuật và chiến lược, cách thức tiến hành cuộc chiến bao vây kéo dài, và những nguyên nhân chính trị đằng sau nó, trận vây hãm Osaka được xem là cuộc xung đột cuối cùng của thời kỳ Chiến Quốc.

Bên ngoài trận vây hãm Osaka, và những cuộc xung đột cuối cùng trong những năm 1850 – 60, bạo lực trong thời Edo bị hạn chế chỉ còn lại những vụ giao tranh nhỏ trên đường phố, những cuộc nổi loạn của nông dân, và việc thi hành những hạn chế hàng hải, cấm đạo Thiên Chúa vào những năm 1630, 40. Sự truyền bá của đạo Thiên Chúa cùng với các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đến Nhật Bản với những thương nhân Trung Quốc và phương Tây ngày càng nhiều, được xem là mối đe dọa đến sự thống nhất và ổn định của nhà nước Mạc phủ Tokugawa. Với một số ngoại lệ rất đặc biệt, người nước ngoài đã bị nhà cầm quyền cấm vào các khu vực bên trong của quần đảo này, và các tín đồ Thiên Chúa giáo người Nhật bị khủng bố và ngược đãi cùng với nạn đói và những khó khăn về kinh tế vào cuối thời kỳ Edo bùng nổ một số cuộc bạo loạn và nổi dậy, lớn nhất và nổi tiếng nhất trong đó là cuộc nổi loạn Shimabara vào năm 1638.

Sau một thời gian dài hưởng thụ hòa bình, sự xuất hiện của những tàu chiến do Phó đề đốc Matthew Perry của Hải quân Hoa Kỳ đến Nhật Bản vào những năm đầu thập niên 1850, đề nghị Nhật Bản mở cửa thương mại với phương Tây sự kiện đã dẫn tới hàng loạt vụ khủng hoảng chính trị của chế độ Mạc phủ ngày càng suy yếu dần và dẫn tới sự sụp đổ vào năm 1868. Mặc dù cuối thập niên 1860, để cứu vãn tình hình khủng hoảng này, Mạc phủ cho thực thi hàng loạt cải cách phỏng theo khuôn mẫu phương Tây để xoa dịu dư luận và giải quyết xung đột, mâu thuẫn giữa các Phiên một cách hòa bình, thông qua kiến nghị chính trị và như thế, những năm xung quanh sự kiện này không phải là một cuộc cách mạng hoàn toàn không đổ máu. Sau khi chế độ Mạc phủ chính thức sụp đổ, Chiến tranh Boshin (戊辰 戦 争 Boshin Sensō) bùng nổ vào năm 1868-1869 giữa quân đội cùng những người còn trung thành với Tokugawa và lực lượng quân sự của một số Phiên ủng hộ danh nghĩa Thiên Hoàng để nắm lấy quyền lực và tiến tới thống nhất toàn quốc, mở ra một thời kỳ mới với những biến động của lịch sử quân sự Nhật Bản.

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Samurai của Phiên Satsuma, trong thời kỳ chiến tranh Boshin, năm 1867. chụp bởi Felice Beato

Sau khi lật đổ Mạc phủ Tokugawa và thành lập chính phủ Minh Trị, Nhật Bản đã tiến hành chính thức hiện đại hóa vũ khí bằng cách nhập khẩu vũ khí phương Tây và cuối cùng người Nhật đã có thể tự sản xuất vũ khí ngay trong nước và thuê chuyên gia nước ngoài huấn luyện quân sự cho quân độii chính phủ. Sau đó, trong một phần tư thế kỷ, Nhật Bản đã thành công trong công cuộc hiện đại hóa đến nỗi có thể triển khai những đạo quân được trang bị và tổ chức theo lối mới, với hải quân được người Anh huấn luyện, bộ binh thì do người Đức huấn luyện.

Tại lục địa Châu Á, Nhật đánh bại Trung Hoa trong chiến tranh Trung-Nhật (1894 – 1895), sau đó chiếm Đài Loan (1895) và mất quyền kiểm soát trực tiếp Triều Tiên vì sự can thiệp của Nga dẫn đến bùng nổ cuộc chiến tranh Nhật-Nga (1904 – 1905), Nhật Bản trở thành quốc gia châu Á đầu tiên kể từ thời Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn để giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh với một quốc gia châu Âu khác. Năm 1902 Nhật Bản lại một lần nữa đã trở thành quốc gia châu Á đầu tiên ký một hiệp ước phòng thủ chung với một quốc gia châu Âu khác là Vương quốc Anh.

Nhật Bản cũng là thế lực cuối cùng gia nhập vào việc thực dân toàn cầu, tuy không tham gia vào Thế chiến I. Trong thập niên 1930, 40, trước sức ép cạnh tranh và phải đối đầu với Mỹ mặc dù ngành công nghiệp trong nước vẫn còn đang phát triển, Nhật Bản bắt đầu một cuộc chiến tranh chống lại Hoa Kỳ trong Thế chiến II để giành lấy tiềm lực kinh tế và thiết lập một Đế Chế hùng mạnh ngay tại Đông Nam ÁThái Bình Dương bất chấp tiềm lực quốc phòng và khả năng công nghiệp ít hơn của Mỹ một phần mười.

Nhật Bản đã không tham gia vào một cuộc chiến tranh lớn nào kể từ khi bị đánh bại trong Thế chiến II. Mặc dù Nhật Bản vẫn duy trì một lực lượng quốc phòng đủ để tự bảo vệ lấy mình, Hiến pháp Nhật Bản ban đầu được soạn thảo theo hướng dẫn của Tướng Douglas MacArthur năm 1945, chính thức từ bỏ chiến tranh và việc sử dụng lực lượng quân sự theo những cách tích cực hoặc gây khó chịu. Nhật Bản cũng duy trì một chính sách chống lại việc xuất khẩu thiết bị quân sự. Ngoài ra, Nhật Bản còn là quốc gia duy nhất thực hiện một chương trình thăm dò không gian không có vũ khí hạt nhân.

Thời kỳ Minh Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết lập quân đội hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1873, Chính phủ Minh Trị đã ban hành luật nhập ngũ và thành lập Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Việc phân biệt đẳng cấp bị loại bỏ trong nỗ lực hiện đại hóa và tạo ra một nền dân chủ đại diện, samurai bị mất hết đặc quyền quân sự và địa vị xã hội, giờ đây buộc phải tham gia nghĩa vụ quân sự như những người bình thường khác. Những biến động của tầng lớp samurai trước thời đại mới được mô tả khá chân thực trong phim The Last Samurai do Tom CruiseKen Watanabe thủ vai.

Chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Trung-Nhật là cuộc chiến nhằm chống lại các lực lượng quân sự nhà Thanh của Trung Quốc đóng quân ở bán đảo Triều Tiên, Mãn Châu, và bờ biển Trung Quốc. Đó là cuộc xung đột lớn đầu tiên giữa Nhật Bản và một thế lực quân sự ở nước ngoài trong thời hiện đại.

Hiệp ước Shimonoseki (下 关 条约, Shimonoseki Jyoyaku) được ký kết giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã kết thúc chiến tranh. Thông qua hiệp ước này, Nhật Bản buộc Trung Quốc mở cửa thương mại quốc tế và nhượng lại phần phía nam tỉnh Liêu Ninh của Trung Quốc cũng như các hòn đảo của Đài Loan cho Nhật Bản. Trung Quốc buộc phải trả một khoản bồi thường chiến tranh là 200 triệu lượng vàng. Kết quả, Triều Tiên không còn là một chư hầu của Trung Quốc, nhưng rơi vào phạm vi ảnh hưởng của Nhật Bản. Tuy nhiên, nhiều lợi ích vật chất từ các cuộc chiến tranh này đã bị mất do Nhật Bản do sự can thiệp từ ba cường quốc khác.

Nhật Bản xâm lược Đài Loan (1895)[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Nhật Bản chiếm đóng đảo Đài Loan đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ bên trong nội bộ chính phủ cùng những cuộc nổi loạn của cư dân hòn đảo này, và chỉ được hoàn thành sau một chiến dịch quân sự toàn diện đòi hỏi sự cam kết của Sư đoàn Vệ binh Đế quốc và hầu hết các sư đoàn 2 và 4 tỉnh. Chiến dịch bắt đầu vào cuối tháng 5 năm 1895 bằng cuộc đổ bộ của quân đội Nhật Bản tại Cơ Long, nằm trên bờ biển phía Bắc Đài Loan, và kết thúc vào tháng 10 năm 1895 với việc Nhật Bản chiếm đóng Đài Nam, thủ đô của Cộng hòa Đài Loan theo kiểu tự trị. Việc Nhật Bản đánh bại quân Trung Quốc và dân bản xứ ở Đài Loan tương đối dễ dàng nhưng các cuộc hành quân thường bị các thành phần du kích địa phương quấy rối. Người Nhật đáp trả lại bằng sự trả thù tàn bạo, và sự kháng cự rời rạc, lẻ tẻ của quân du kích chống lại sự chiếm đóng của người Nhật tại Đài Loan vẫn tiếp tục cho đến năm 1902 thì chấm dứt.

Chiến tranh Nhật – Nga (1904 – 1905)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng của Nhật Bản trong Chiến tranh Nhật-Nga 1904-1905 đánh dấu sự nổi lên của Nhật Bản như là một cường quốc quân sự. Nhật Bản đã chứng minhcho cả thế giới biết rằng họ có thể áp dụng công nghệ, kỷ luật, vũ khí, chiến lược, và chiến thuật phương Tây, trong một cuộc chiến tranh quy ước.

Thời kỳ Taisho - Thế chiến thứ I[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1914, Nhật Bản là một thành viên của quân Đồng minh trong Thế chiến I và được thưởng công bằng sự kiểm soát các thuộc địa của Đức ở Thái Bình Dương. Một lực lượng quân sự hùng hậu bao gồm 70.000 lính Nhật cũng can thiệp vào nước Nga trong cuộc Nội chiến Nga, hỗ trợ các phe phái chống cộng, nhưng không đạt được mục tiêu và buộc phải rút lui. Một nhóm nhỏ các tàu tuần dươngtàu khu trục của Nhật Bản cũng tham gia vào các nhiệm vụ khác nhau ở Ấn Độ DươngĐịa Trung Hải trong thời kỳ này.

Thời kỳ Showa - Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản kiểm soát được khu vực trực tiếp xung quanh đường sắt Nam Mãn Châu, đạo quân Quan Đông của Nhật Bản tiếp tục xâm chiếm Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc) vào năm 1931, sau các sự cố Phụng Thiên, trong đó họ tuyên bố lãnh thổ bị tấn công bởi người Trung Quốc (một vài mét đường sắt Nam Mãn Châu đã bị phá hủy trong một vụ đánh bom phá hoại). Năm 1937, Nhật Bản đã sáp nhập lãnh thổ phía bắc của Bắc Kinh và, sau sự biến Lư Câu Kiều, một cuộc xâm lược toàn diện vào Trung Quốc bắt đầu. Nhật Bản có ưu thế quân sự khi phải phải đối đầu với một đội quân yếu ớt và mất tinh thần của Trung Hoa Dân Quốc cho phép quân Nhật có thể tiến quân nhanh chóng xuống bờ biển phía đông, dẫn đến sự sụp đổ của Thượng HảiNam Kinh (Nam Kinh, về sau là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc) cùng năm. Người Trung Quốc bị thương vong rất nhiều trong cả quân sự và dân sự. Ước tính khoảng 300.000 thường dân đã thiệt mạng trong trong vụ Thảm sát Nam Kinh vào những tuần đầu tiên khi Nhật chiếm đóng Nam Kinh.

Vào tháng 9 năm 1940, Đức, Ý, và Nhật Bản trở thành đồng minh theo Hiệp ước ba bên. Trước đó Đức đã đào tạo và cung cấp vũ khí cho quân đội Trung Quốc, giờ tạm dừng tất cả các hợp tác Trung-Đức, và triệu hồi cố vấn quân sự là Alexander von Falkenhausen về nước. Trong tháng 7 năm 1940, Mỹ đã cấm vận chuyển xăng dầu hàng không sang Nhật Bản, trong khi quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương thuộc Pháp và chiếm đóng các căn cứ của hải quân và không quân ở bán đảo Đông Dương trong tháng 9 năm 1940.

Vào tháng 4 năm 1941, Đế quốc Nhật Bản và Liên Xô đã ký một hiệp ước trung lập và Nhật Bản gia tăng áp lực lên các thuộc địa của PhápHà LanĐông Nam Á hợp tác trong các vấn đề kinh tế. Sau Nhật Bản từ chối rút khỏi Trung Quốc (ngoại trừ Mãn Châu quốc) và Đông Dương, vào ngày 22 Tháng 7 năm 1941, Hoa Kỳ, Anh và Hà Lan áp đặt một lệnh cấm vận về xăng dầu, trong khi các lô hàng kim loại phế liệu, sắt thép và các vật liệu khác hầu như chấm dứt nhập khẩu vào Nhật Bản. Trong khi đó, Mỹ bắt đầu tăng cường hỗ trợ kinh tế cho Trung Quốc để nước này đủ sức chống lại sự bành trướng quân sự và thuộc địa của Nhật Bản.

Sau khi Nhật Bản quyết định tấn công bất ngờ Hoa Kỳ thông qua Nhật tấn công Trân Châu Cảng và chống lại một số quốc gia khác vào ngày 7 Tháng 12, năm 1941, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và các nước Đồng minh khác tuyên bố chiến tranh, chiến tranh Trung-Nhật trở thành một phần của cuộc xung đột toàn cầu trong Thế chiến II. lực lượng Nhật Bản đầu tiên có kinh nghiệm thành công lớn chống lại lực lượng Đồng Minh tại Thái Bình Dương và Đông Nam Á, chiếm Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Đông Ấn Hà Lan, Philippines và nhiều đảo Thái Bình Dương. Họ cũng thực hiện một cuộc tấn công lớn ở Miến Điện và thực hiện nhiều đợt tấn công bằng không quân và hải quân nhằm chống lại nước Úc. Quân Đồng minh đã biến chiến tranh trên biển thành xu hướng vào giữa năm 1942, trong trận Midway. lực lượng Lục quân của Nhật Bản tiếp tục tiến hành chiến dịch quân sự ở New Guineaquần đảo Solomon, nhưng bị đánh bại trong các chiến dịch quan trọng và buộc phải rút lui sau trận chiến vịnh Milne, đường mòn KokodaGuadalcanal.

Từ năm 1943 trở đi, các chiến dịch quân sự quan trọng và ác liệt tại trận Buna-Gona, Tarawa, biển Philippines, vịnh Leyte, Iwo Jima, Okinawa, và những kết quả khác dẫn đến thương vong khủng khiếp, hầu hết là về phía Nhật Bản, và buộc quân Nhật phải triệt thoái toàn bộ. Rất ít người Nhật chết trong các trại tù binh chiến tranh, điều này có thể có được do sự đầu hàng miễn cưỡng của lính Nhật. Sự tàn bạo của cuộc xung đột này là ví dụ điển hình của quân đội Mỹ lục soát và cắt một số bộ phận cơ thể từ xác chết của lính Nhật mà họ coi là "chiến lợi phẩm chiến tranh" hoặc "đồ lưu niệm chiến tranh" và tục ăn thịt đồng loại của Nhật Bản.

Trong suốt cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương của quân đội Nhật tham gia vào các tội ác chiến tranh, trong việc ngược đãi tù nhân chiến tranh và thường dân đặc biệt, với quy mô tương đương với các trại thảm sát người Do Thái của Đức Quốc xã. Một số tài liệu ước tính cho rằng khoảng 6 triệu người đã bị giết bởi quân đội Nhật Bản, chủ yếu là dân thường Trung Quốc. Những con số này đang có tranh chấp cho rằng từ 1939-1945, hơn 16 triệu dân thường bị thương tại Trung Quốc. Đây là con số thương vong dân sự lớn nhất tính trong bất cứ nước nào. Ngược đãi tù nhân của quân Đồng minh thông qua lao động cưỡng bức và tàn bạo được lan rộng lớn ở phía tây. Một số sách lịch sử của Nhật Bản hiện nay ghi nhận rằng chính phủ Nhật Bản đã không thừa nhận những đau khổ do quân đội Nhật gây ra cho dân thường các nước trong Thế chiến II và việc giảng dạy lịch sử trong các trường học tại Nhật đã gây ra sự phản đối của quốc tế.

Ngày 6 tháng 89 tháng 8 năm 1945, Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống HiroshimaNagasaki. Hơn 200.000 người chết đa phần là dân thường do hậu quả trực tiếp của hai vụ đánh bom, vài ngày sau Liên Xô tuyên bố tham chiến chống lại Nhật Bản.

Nhật Bản đầu hàng ngày 15 Tháng 8 năm 1945 và một văn kiện chính thức đầu hàng đã được ký kết vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên tàu chiến USS MissouriVịnh Tokyo. Lễ tiếp nhập đầu hàng được chấp nhận bởi Tướng Douglas MacArthur là Tư lệnh tối cao của quân Đồng Minh, với các đại diện của mỗi quốc gia Đồng Minh, từ phái đoàn Nhật Bản do Mamoru Shigemitsu dẫn đầu. Một buổi lễ đầu hàng riêng biệt giữa Nhật Bản và Trung Quốc được tổ chức tại Nam Kinh vào ngày 9 tháng 9 năm 1945. Sau thời gian này, MacArthur thành lập căn cứ quân sự ở Nhật Bản để giám sát sự phát triển nước Nhật Bản sau chiến tranh. Giai đoạn này trong lịch sử Nhật Bản được biết đến với tên gọi chính thức là thời kỳ Chiếm đóng. Tổng thống Mỹ Harry Truman chính thức tuyên bố chấm dứt chiến sự vào ngày 31 tháng 12 năm 1946.

Trong suốt cuộc chiến, Nhật Bản đạt được khá nhiều tiến bộ đáng kể trong chiến lược, công nghệ và chiến thuật quân sự. Trong số đó có thiết giáp hạm Yamato, tàu ngầm mang máy bay ném bom Sensuikan Toku, máy bay tiêm kích Mitsubishi Zero, và máy bay ném bom Kamikaze.

Văn kiện Atlantic[sửa | sửa mã nguồn]

Douglas MacArthur ký văn kiện chính thực việc Nhật Bản đầu hàng trên chiến hạm USS Missouri, ngày 2 tháng 9 năm 1945

Một số học giả và sử gia phương Tây cho rằng Nhật Bản quyết định tấn công các nước đồng minh một phần lớn, chịu ảnh hưởng của việc bắt giữ các tài liệu mật của Anh liên quan đến lực lượng phòng thủ Singapore của Anh, mật mã, và thông tin về Úc và New Zealand, cũng như đánh giá mục đích của người Nhật. Những tài liệu này đã được một người Đức là Hilfskreuzer chụp trên chiếc tàu tuần dương phụ Atlantis vào ngày 11 tháng 11 năm 1940. Các yếu tố khác cho thấy quân đội Nhật Bản ra lệnh xâm chiếm lãnh thổ của quân Đồng minh để đáp lại sự thất bại trong việc tự vệ chống lại lực lượng của Liên Xô trong năm 1938-1939 trong Chiến dịch Khalkhyn Gol.

Thời kỳ Hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian dài dưới sự chiếm đóng của Mỹ (1945-1952), Nhật Bản giành lại độc lập. Tuy nhiên theo Điều chín của Hiến pháp Nhật Bản, Nhật Bản bị cấm xây dựng quân đội thường trực hoặc tiến hành chiến tranh với bất cứ mục đích gì.

Mặc dù hiến pháp Nhật Bản nói rằng "lực lượng hải, lục, không quân, cũng như tiềm năng chiến tranh khác, sẽ không bao giờ được duy trì," Tự vệ đội (自衛隊), hay Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản được thành lập ngay sau khi Mỹ kết thúc chiếm đóng Nhật Bản. Tự vệ đội là một trong những lực lượng vũ trang được trang bị công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới và chi phí quân sự của Nhật Bản đứng vào hàng cao nhất thứ bảy trên thế giới. Mặc dù Hiệp ước Hợp tác và An ninh lẫn nhau, ký kết vào năm 1960, cho phép sự hiện diện liên tục của các căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật Bản, hầu hết trong số đó đóng trên đảo Okinawa, mặc dù không có thỏa thuận chính thức nào cả buộc Nhật Bản phải chính thức dựa vào Hoa Kỳ, Liên Hiệp Quốc, hoặc bất kỳ thế lực nào khác để bảo vệ đất nước mình.

Hậu quả từ sự Chiếm đóng của Mỹ, cùng những nỗ lực của chính quyền Nhật Bản, đặc biệt là sự thúc đẩy của Hoa Kỳ, để sửa đổi Hiến pháp và tái vũ trang. Điều này đã được ngăn chặn bằng sự chống đối lại hành động này của một số nước từng bị quân đội Nhật xâm chiếm, và những tổ chức, đoàn thể chống chiến tranh nói chung, cùng với thái độ và những yếu tố quan trọng của chương trình nghị sự ttrong nội các chính phủ Nhật Bản. Năm 1967, Thủ tướng Eisaku Sato đưa ra ba nguyên tắc phi hạt nhân mà theo đó Nhật Bản sẽ chống lại việc sản xuất, hoặc sở hữu vũ khí hạt nhân. ý tưởng tương tự cũng được thể hiện nhiều năm sau đó chống lại việc sản xuất và xuất khẩu vũ khí quy ước. Nghị viện Nhật Bản hiện đang cân nhắc việc sửa đổi Hiến pháp sẽ bãi bỏ Điều Chín, và cho phép Nhật Bản một lần nữa có khả năng tái vũ trang quân sự.

Trong lúc này, Nhật Bản đã triển khai Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản để hỗ trợ trong một số nhiệm vụ không chiến đấu, đặc biệt là những người có liên quan đến viện trợ nhân đạo, chẳng hạn như giúp đỡ các nạn nhân của trận động đất Kobe năm 1995, cung cấp hỗ trợ hành chính cho Lực lượng Lâm thời Liên Hiệp QuốcLiban (UNIFIL) Tiểu đoàn Na Uy (NORBATT) trong những năm 1990, và giúp tái thiết lại Iraq.

Một số quan chức Nhật Bản mong muốn có quân đội riêng của họ vì sợ sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc và sự thù địch của Bắc Triều Tiên. Họ tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã không đủ sức mạnh và thẩm quyền giải quyết các vấn đề này, và do đó Nhật Bản phải tự xây dựng lực lượng riêng để bảo vệ chính mình trước những hiểm họa xung quanh.

Năm 2004, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã công bố một kế hoạch mở rộng số ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và Nhật Bản tìm cách đạt được một trong những chỗ ngồ nàyi. bất chấp sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng chính trị của Nhật Bản, một số cuộc tranh luận có hay không về một đất nước không có quân đội thường trực có thể được coi là một "cường quốc thế giới" mà cần phải có một ghế thường trực trong Hội đồng. tranh chấp lãnh thổ gần đây với các nước láng giềng như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, và Nga ở các quần đảo như Senkaku, Liancourt Rocks, và quần đảo Kuril, cũng như lời buộc tội về sự minh oan của Nhật Bản về vụ sách giáo khoa lịch sử gây tranh cãi khác nhau cũng làm quá trình này ngày càng thêm phức tạp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 江上波夫 騎馬民族国家 ISBN 4122011264
  • R.H.P Mason & J.G.Caiger (1997). Lịch sử Nhật Bản; NXB Lao Động, người dịch: Nguyễn Văn Sỹ.
  • Gordon, David M. "The China-Japan War, 1931-1945" Journal of Military History (Jan 2006) v 70#1, pp 137–82. Historiographical overview of major books
  • Sansom, George (1958). 'A History of Japan to 1334'. Stanford, California: Stanford University Press.
  • Sansom, George (1961). "A History of Japan: 1334-1615." Stanford, California: Stanford University Press.
  • Sansom, George (1963). "A History of Japan: 1615-1867." Stanford, California: Stanford University Press.
  • Turnbull, Stephen (1998). 'The Samurai Sourcebook'. London: Cassell & Co.
  • Turnbull, Stephen (2002). 'War in Japan: 1467-1615'. Oxford: Osprey Publishing.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]