Thượng viện Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thượng viện
วุฒิสภา
Wutthisapha
Dạng
Mô hình Thượng viện
Lãnh đạo
Chủ tịch Thượng viện Nikom Wairatpanij
từ 23 tháng 8 2012
Cơ cấu
Số nghị sĩ 150 Thành viên
Các chính đảng 76 được bầu và 74 chỉ định
Lĩnh vực Khoa học,
Lĩnh vực Công,
Lĩnh vực Tư,
Lĩnh vực các ngành chuyên nghiệp
và Lĩnh vực khác
Bầu cử
Bầu cử vừa qua 2 tháng 3 2008
Trụ sở
Thai Parliament House.JPG
Tòa nhà Quốc hội Thái Lan
Trang Web
www.senate.go.th
Garuda Emblem of Thailand.svg
Bài này nằm trong loạt bài về:
Chính trị và chính phủ
Thái Lan
Thailand flag bar.svg

Thượng viện Thái Lan(tiếng Thái: วุฒิสภา, Wutthisapha ; tên cũ là Phruetthasapha hoặc "พฤฒสภา")là thượng viện của Quốc hội Thái Lan .Hiến pháp năm 2007 của Thái Lan quy định Thượng viện là cơ quan lập pháp không đảng phái, bao gồm 150 thành viên. 76 thượng nghị sĩ được bầu trực tiếp từ 75 tỉnh của Thái Lan và Bangkok ,74 thượng nghị sĩ khác được bổ nhiệm từ các thành phần khác do Ủy ban Tuyển chọn Thượng viện lựa chọn. Thượng viện hoạt động theo nhiệm kỳ 6 năm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thức Lưỡng viện được lựa chọn tại bản Hiến pháp năm 1946 ,dười thời Thủ tướng Pridi Panomyong .Thượng viện của Thái Lan chính thức ra đời theo hình thức như lưỡng viện nước Anh .Thượng viện được bầu theo hình thức gián tiếp thông qua Hạ viện với nhiệm kỳ 6 năm .Hiến pháp năm 1946 nhanh chóng bị xóa bỏ sau cuộc đảo chính quân sự .Hiến pháp tiếp theo Lưỡng viện chỉ thỉnh thoảng xuất hiện, và khi được tồn tại thì Thượng viện đều do quân đội và nhóm đặc quyền chiếm giữ .Hiến pháp năm 1997 Thượng viện được bầu hoàn toàn trở lại . sau đó Hiến pháp bị xóa bỏ bởi cuộc đảo chính 2006 , và Thượng viện được thông qua hình thức nửa bầu nửa chỉ định .

  • 1947 Thượng viện đầu tiên được thành lập gồm 100 người do Hoàng gia chỉ định
  • 1952 Thành lập Quốc hội một viện với 123 thành viên
  • 1968 Tái lập Thượng viện với 164 thành viên do Hoàng gia chỉ định
  • 1972 Thống chế Thanom Kittikachorn xóa bỏ cơ quan lập pháp
  • 1974 Tái lập Thượng viện thành viên do Hoàng gia chỉ định
  • 1976 Tái lập Quốc hội một viện gồm 360 thành viên do Hoàng gia bổ nhiệm
  • 1978 Tái lập Thượng viện với 225 thành viên Hoàng gia bổ nhiệm
  • 1991 Thành lập Quốc hội một viện với 292 thành viên do Hoàng gia bổ nhiệm
  • 1997 Thành lập Thượng viện đầu tiên được bầu trực tiếp gồm 200 thành viên với nhiệm kỳ 6 năm
  • 2006 Sau cuộc đảo chính , điều lệ tạm thời đã được ký thành lập Hội đồng Lập pháp Quốc gia với 250 thành viên
  • 2007-nay Sau cuộc trưng cầu dân ý và việc ban hành Hiến pháp 2007 ,Thượng viện được bầu một nửa

Tiêu chuẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn của Thượng nghị sĩ được ghi tại điều 115, Phần 3, chương 6, Hiến pháp 2007 .

Ứng viên chức danh Thượng nghị sĩ được chỉ định phải đủ các tiêu chuẩn sau đây :

  • Là công dân được sinh ra tại Thái Lan
  • Có độ tuổi trên 40
  • Có ít nhất 1 bằng tốt nghiệp Đại học

Ứng viên chức danh Thượng nghị sĩ thông qua bầu cử phải đủ các tiêu chuẩn sau đây :

  • Là công dân được sinh ra ,và lớn lên tại địa phương nơi được bầu .
  • Không có vợ/chồng hoặc con là thành viên trong Hạ viện hoặc nằm bất cứ chức vụ của bất kỳ Đảng phái chính trị nào
  • Không phải thành viên của Đảng phái chính trị nào trong vòng 5 năm

Tiêu chuẩn chung của Thượng nghị sĩ được bầu hay chỉ định là :Nghiện ma túy ,bị phá sản , bị kết án, là thành viên của chính quyền địa phương, công chức, thành viên của ngành tư pháp hoặc bất cứ một cơ quan nào của chính phủ .Không có quyền công dân ( là giáo sĩ ,bị kết án ,hay tàn tật). Nếu ứng cử viên là thành viên của chính quyền địa phương hoặc Bộ trưởng ,phải dời khỏi nhiệm sở ít nhất là 5 năm .

Bầu cử và Chỉ định[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số 150 thượng nghị sĩ, 77 được bầu trực tiếp từ 76 tỉnh của Thái Lan với 1 vùng đô thị là Bangkok .Các thành viên được lựa chọn bằng cách phổ thông đầu phiếu .Mỗi người một phiếu và bỏ phiếu kín cho ứng cử viên duy nhất tại mỗi địa phương .Có nhiều ứng cử viên nhưng đều phải là không đảng phái và không liên kết với bất cứ đảng nào .

Cuộc bầu cử thượng viện gần đây nhất là 2008 .

Chỉ định[sửa | sửa mã nguồn]

73 thành viên còn lại sẽ được lựa chọn bởi một Ủy ban Tuyển chọn Thượng nghị sĩ . Ủy ban được thành lập tại mục 113, Phần 3 và Chương 6 của Hiến pháp. Ủy ban gồm có:

  • Chủ tịch Tòa án Hiến pháp Thái Lan
  • Chủ tịch Ủy ban Bầu cử
  • Chủ tịch Ủy ban Kiểm toán Nhà nước
  • Thẩm phán Tòa án Tối cao giữ chức vụ không thấp hơn ở cấp thẩm phán Tòa án Tối cao theo Uỷ thác của Đại hội Tòa án Tối cao
  • Thẩm phán Tòa án Hành chính Tối cao theo sự Ủy thác của Đại hội đồng thẩm phán Tòa án Hành chính Tối cao

Trong đó phải bầu ra 1 Chủ tịch người đứng đầu Ủy ban .Ủy ban sẽ lựa chọn các thành viên của Thượng viện dựa trên 5 loại lĩnh vực:

1 Lĩnh vực Khoa học,
2 Lĩnh vực Công,
3 Lĩnh vực Tư,
4 Lĩnh vực các ngành chuyên nghiệp
5 Lĩnh vực khác.

Nhiệm kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ của Thượng viện kéo dài 6 năm .Thượng viện chỉ bị giải tán khi có 1 sắc lệnh của Hoàng gia về việc bầu cử sớm .Thượng viện bị giải tán sau 30 ngày công bố sắc lệnh .

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng viện gồm có 1 Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch .Chủ tịch Thượng viện kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Quốc hội Thái Lan .Chủ tịch hiện tại là Nikom Wairatpanij kiêm quyền Chủ tịch Quốc hội.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]