Thang độ lớn mô men

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thang độ lớn mô men (tiếng Anh: moment magnitude scale) là một cách đo mạnh động đất được phát triển năm 1979 bởi Tom HanksKanamori Hiroo để kế tiếp thang Richter (thang độ lớn địa phương), và được sử dụng bởi các nhà địa chấn học để so sánh năng lượng được phát ra bởi động đất. Độ lớn mô men M_\mathrm{w}số không thứ nguyên được tính theo công thức

M_\mathrm{w} = {2 \over 3}\left(\log_{10} \frac{M_0}{\mathrm{N}\cdot \mathrm{m}} - 9.1\right) = {2 \over 3}\left(\log_{10} \frac{M_0}{\mathrm{dyn}\cdot \mathrm{cm}} - 16.1\right),

trong đó, M_0mô men địa chấn. Ký hiệu của thang độ lớn mô men là M_\mathrm{w}, trong đó, chữ w tiểu là công cơ học được thực hiện. Năng lượng được phát ra bởi một trận động đất có độ 8 theo thang lôgarit này bằng 101,5 = 31,6 lần năng lượng của một trận có độ 7, và một trận có độ 9 mạnh bằng 103 = 1.000 lần của một trận có độ 7.

Các hằng số trong công thức được chọn để cho những độ lớn mô men ước lượng gần ứng với các thang khác, như là thang Richter. Một thuận lợi của thang độ lớn mô men là, khác với các thang độ lớn kia, nó không bão hòa đối với các độ lớn, tức là không có một giá trị mà các động đất mạnh hơn gần như cùng độ lớn. Ví thế, độ lớn mô men mới là cách phổ biến nhất để ước lượng độ lớn của trận động đất lớn.

Báo chí không chuyên môn về khoa học thường nói ra độ lớn động đất "theo thang Richter". Tuy nhiên, phần nhiều độ lớn được tính ra ngày nay thực sự tính theo thang độ lớn mô men, tại vì thang Richter cũ hơn không thích hợp với các độ lớn hơn 6,8. Trung tâm Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) không dùng thang M_\mathrm{w} đối với các trận động đất có độ lớn nhỏ hơn 3,5.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hanks, Tom C.; Kanamori Hiroo (1979). “A moment magnitude scale”. Tạp chí Nghiên cứu Địa vật lý (Journal of Geophysical Research) 84 (B5): 2348–50.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  • Choy, George L.; John L. Boatwright (1995). “Global patterns of radiated seismic energy and apparent stress”. Tạp chí Nghiên cứu Địa vật lý 100 (B9): 18205–28.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  • Utsu Tokuji (2002). “Relationships between magnitude scales”. Trong William H.K. Lee; Kanamori Hiroo; Paul C. Jennings; và Carl Kisslinger. International Handbook of Earthquake and Engineering Seismology (International Geophysics, tập 81–A). Academic Press (Elsevier). tr. 733–746. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]