Cỏ xạ hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thymus vulgaris)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thymus vulgaris
Thymus vulgaris - Köhler–s Medizinal-Pflanzen-271.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Lamiales
Họ (familia) Lamiaceae
Chi (genus) Thymus
Loài (species) T. vulgaris
Danh pháp hai phần
Thymus vulgaris
L.
Cỏ xạ hương trồng trong vườn

Cỏ xạ hương (tiếng Anh: Thyme hay Common thyme, Garden thyme, danh pháp hai phần: Thymus vulgaris) là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi, được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, dược liệu và trang trí. Loài này được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753[1] Chúng thuộc Chi Cỏ xạ hương (Bách lí hương) và là loài phổ biến nhất trong chi này.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cỏ xạ hương có nguồn gốc miền nam châu Âu từ phía tây Địa Trung Hải đến miền nam Italia nhưng hiện nay đã di thực khắp nơi trên thế giới. Tại Việt Nam cây được trồng chính tại Đà LạtSa Pa.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trang Y học cổ truyền, cỏ xạ hương là cây dưới bụi, cao 30-70cm, tạo thành khóm xám hay lục trăng trắng, thân hóa gỗ, mọc đứng hay nằm, phân nhánh nhiều và có lông mịn. Lá nhỏ hình ngọn giáo dài 5-9mm; có cuống ngắn, mép lá cuốn lại có lông như bông ở mặt dưới. Hoa nhỏ ở nách lá, dài 4-6mm, màu hồng hay trắng; đài lởm chởm, lông cứng, chia hai môi; tràng hình ống, các môi trên đứng, môi dưới có 3 thùy gần bằng nhau; nhị 4, lồi có bao phấn rẽ ra; nhụy có đĩa mật bao quanh. Quả bế có 4 hạch nhỏ màu nâu. Hoa nở vào tháng 6-10[2].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ai Cập cổ đại sử dụng cỏ xạ hương công việc ướp xác. Người Hy Lạp cổ đại sử dụng nó trong phòng tắm và đốt cháy nó như hương trong các đền thờ, tin rằng nó là nguồn gốc của sự can đảm. Sự lan truyền của cỏ xạ hương khắp châu Âu được cho là do người La Mã, khi họ sử dụng nó để làm sạch phòng và để tạo vị thơm cho pho mát và rượu mùi.[3] Trong thời Trung cổ ở châu Âu, các loại thảo dược đã được đặt bên dưới gối để hỗ trợ giấc ngủ và tránh khỏi những cơn ác mộng.[4] Trong giai đoạn này, phụ nữ cũng thường xuyên tặng cho các hiệp sĩ và chiến binh món quà bao gồm lá cỏ xạ hương, vì nó được cho là mang lại sự can đảm cho người mang. Cỏ xạ hương cũng được sử dụng như hương và được đặt trên quan tài trong đám tang, nó được cho là đảm bảo thông hành vào kiếp sau.

Nuôi trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Cỏ xạ hương tốt nhất là trồng ở một vị trí nắng nóng với đất thoát nước tốt. Nó thường được trồng vào mùa xuân, và sau đó phát triển như một cây lâu năm. Nó có thể được nhân giống bằng hạt, cắt, hoặc chia rễ từ cây. Cây chịu được hạn hán tốt, có thể chịu băng giá và được tìm thấy mọc hoang ở vùng núi cao. Dọc theo Riviera, nó được tìm thấy từ độ cao mực nước biển và lên đến 800m.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Cỏ xạ hương sử dụng làm gia vị

Bộ phận dùng của cỏ xạ hương là ngọn cây mang hoa lá (Herba et Folium Thymi)[2]. Hương vị cỏ hơi hăng, cay, mặn, gần giống đinh hương. Cỏ xạ hương được bán tươi hoặc khô, nên được bổ sung vào cuối quá trình nấu ăn vì nhiệt độ có thể dễ dàng gây mất đi hương vị tinh tế của nó. Dạng tươi thì nhiều vị hơn, nhưng kém tiện lợi hơn dạng khô, thời gian bảo quản hiếm khi hơn một tuần.

Xạ hương tươi thường được bán theo chùm nhánh. Có thể định lượng hương bằng chùm, nhánh hoặc bằng muỗng canh và muỗng cà phê. Cỏ xạ hương khô được sử dụng rộng rãi ở Armenia để pha trà. Tùy thuộc vào cách nó được sử dụng trong một món ăn, toàn bộ nhánh có thể được sử dụng, hoặc dùng lá và bỏ thân. Thông thường khi một công thức nấu ăn nói "chùm" hay "nhánh", có nghĩa sử dụng toàn bộ thân và lá; khi xác định bằng thìa nó có nghĩa là chỉ dùng lá. Thyme giữ lại được hương vị của nó ở dạng khô tốt hơn so với nhiều loại thảo mộc khác.

Cỏ xạ hương phù hợp với tất cả các loại thịt, rau, thịt hầm, súp, độn, bánh mì thịt, ướp và pate. Tốt với nấm, khoai tây chiên, cà rốt (các loại rau khác) và trong trứng tráng. Thường được sử dụng trong clam chowder và gumbo; được sử dụng nhiều trong ẩm thực phương Tây.

Dược liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tinh dầu xạ hương thông thường có vị cay mùi thơm, tính ấm; có tác dụng khư phong giải biểu, hành khí giảm đau[2], chứa 20-54% thymol.[5] Tinh dầu xạ hương cũng chứa một số hợp chất khác, chẳng hạn như p-cymene, myrcene, borneol và linalool.[6] Thymol, một chất khử trùng, là thành phần hoạt chất chính trong nhiều loại nước súc miệng được sản xuất thương mại như Listerine.[7] Trước khi sự ra đời của kháng sinh hiện đại, dầu cỏ xạ hương được sử dụng để băng bó. Thymol cũng đã được chứng minh là có hiệu quả trong trị nấm mà thường là lây nhiễm móng chân.[8] Thymol cũng có thể được tìm thấy như là thành phần chính trong một số sản phẩm rửa tay tự nhiên, không cồn.

Trà làm từ xạ hương có thể dùng để trị ho và viêm phế quản. Một nghiên cứu của Đại học Leeds Metropolitan thấy rằng cỏ xạ hương có thể có ích trong việc điều trị mụn trứng cá.[9][10]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Plant List (2010). Thymus vulgaris. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ a ă â Cỏ xạ hương
  3. ^ Grieve, M. “Thyme. A Modern Herbal.”. Hypertext version of the 1931 edition. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2008. 
  4. ^ Huxley, A (1992). New RHS Dictionary of Gardening. Macmillan. 
  5. ^ Montvale, NJ. Thymus Vulgaris. PDR for Herbal Medicine. Medical Economics Company. tr. 1184. 
  6. ^ “Chemical Composition of Thyme Essential Oil”. Thyme Essential Oil. 
  7. ^ Pierce, Andrea (1999). American Pharmaceutical Association Practical Guide to Natural Medicines. New York: Stonesong Press. tr. 338–340. 
  8. ^ Ramsewak, Russel S; Nair, Muraleedharan G.; Stommel, Manfred; Selanders, Louise (tháng 4 năm 2003). Phytotherapy Research. doi:10.1002/ptr.1164. PMID 12722144. 
  9. ^ “Early days for 'thyme acne treatment'”. National Health Service. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ Graber, Cynthia. “Thyme Kills Acne Bacteria”. Scientific American. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]