Titanoboa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Titanoboa
Thời điểm hóa thạch: 60–58Ma
Paleocen
Titanoboa NT.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Sauropsida/Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Serpentes
Họ (familia) Boidae
Phân họ (subfamilia) Boinae
Chi (genus) Titanoboa
Head và ctv., 2009
Các loài
  • T. cerrejonensis

Titanoboa (nghĩa là "trăn khổng lồ")[1] là một chi rắn từng sinh sống khoảng từ 60 tới 58 triệu năm trước, trong thế Paleocen[2]. Loài duy nhất đã biết có danh pháp Titanoboa cerrejonensis, loài rắn to lớn nhất được phát hiện từ trước tới nay[2]. Bằng cách so sánh kích thước và hình dáng cột sống đã hóa thạch của nó với cột sống của các loài rắn hiện đại, các nhà nghiên cứu ước tính rằng T. cerrejonensis dài khoảng 13 m (43 ft)[1], cân nặng khoảng 1.135 kg (2.500 pao)[1] và rộng khoảng 1 m (3,3 ft) tại điểm dày nhất trên cơ thể nó. Các hóa thạch của 28 cá thể T. cerrejonensis đã được tìm thấy trong các mỏ than tại Cerrejón ở miền bắc Colombia vào năm 2009[1][2]. Trước khi có phát hiện này, một ít hóa thạch các động vật có xương sống thuộc thời kỳ Paleocen cũng đã được tìm thấy trong các môi trường nhiệt đới cổ đại ở Nam Mỹ[3].

Các hóa thạch này được phát hiện trong chuyến thám hiểm của một đội các nhà khoa học quốc tế dưới sự chỉ đạo của Jonathan Bloch, một nhà cổ sinh học chuyên về động vật có xương sống của Đại học Florida và Carlos Jaramillo, một nhà cổ thực vật học từ Viện Nghiên cứu Nhiệt đới SmithsonianPanama[4].

Do rắn là động vật máu lạnh, phát hiện này hàm ý rằng khu vực nhiệt đới, môi trường sinh sống của sinh vật này khi đó phải ấm hơn so với các nhà khoa học đã nghĩ trước đó, trung bình khoảng 32 °C (90 °F)[1][2][5][6][7]

So sánh kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu ấm áp hơn của Trái Đất trong thời kỳ của Titanoboa đã cho phép các loài rắn máu lạnh có được kích thước to lớn hơn so với kích thước của rắn ngày nay[8]. Con to lớn nhất trong số 28 con rắn này dài khoảng 12 tới 15 m (37 tới 50 ft). Để so sánh, những loài rắn to lớn nhất còn sinh tồn ngày nay là trăn gấm (Python reticulatus) với chiều dài khoảng 9 m (30 ft) và trăn anaconda xanh (Eunectes murinus) với chiều dài khoảng 7,5 m (24,6 ft)[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Head, Jason J.; Jonathan I. Bloch, Alexander K. Hastings, Jason R. Bourque, Edwin A. Cadena, Fabiany A. Herrera, P. David Polly, Carlos A. Jaramillo. “Giant boid snake from the paleocene neotropics reveals hotter past equatorial temperatures.”. Nature 457: 715–718. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009. 
  2. ^ a ă â b Kwok, Roberta (4 tháng 2 năm 2009). “Scientists find world's biggest snake”. Nature. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ Maugh II, Thomas H. (4 tháng 2 năm 2009). “Fossil of 43-foot super snake Titanoboa found in Colombia”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ “At 2,500 Pounds And 43 Feet, Prehistoric Snake Is Largest On Record”. Science Daily. 4 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ Joyce, Christopher (5 tháng 2 năm 2009). “1-Ton Snakes Once Slithered In The Tropics”. NPR. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009. 
  6. ^ AP: Video of Titanoboa
  7. ^ Science Direct: Climate model sensitivity to atmospheric CO2 levels in the Early–Middle Paleogene
  8. ^ The Royal Society: Gigantism, temperature and metabolic rate in terrestrial poikilotherms
  9. ^ CTV: Ancient, gargantuan snakes ate crocs for breakfast

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]