Zoisit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zoisit
zoisit vàng biến thể tanzanit (1.7 x 1 x 0.8 cm)
Thông tin chung
Thể loại khoáng vật silicat
Công thức hóa học Ca2Al3(SiO4)(Si2O7)O(OH)
Phân loại Strunz VIII/C.23-100
Phân loại Dana 58.2.1b.1
Màu trắng, xám, nâu lục, hồng, lam, tía
Dạng thường tinh thể các tinh thể phẳng ở dạng kim, có thể bị uốn cong như sợi. dạng khối đến trụ
Hệ tinh thể tháp đôi trực thoi
Cát khai hoàn toàn theo {010}, không hoàn toàn theo {100}
Vết vỡ không rõ đến vỏ sò
Độ cứng Mohs 6 - 7
Ánh thủy tinh, ngọc trai theo mặt cát khai
Màu vết vạch trắng đến không màu
Tính trong mờ trong suốt đến mờ
Tỷ trọng riêng 3,10-3,36
Thuộc tính quang hai trục (+)
Chiết suất nα = 1,696 – 1,700 nβ = 1,696 – 1,702 nγ = 1,702 – 1,718
Khúc xạ kép 0,006-0,018
Đa sắc X = hồng nhạt đến tím đỏ; Y = gần như không màu đến hồng sáng hoặc lam đậm; Z = vàng nhạt đến lục-vàng
Tham chiếu [1][2][3]
Các biến thể chính
Tanzanit đá quý zoisit chất lượng cao màu tía-lam
Thulit hồng

Zoisit là một khoáng vật silicat đảo kép, thuộc nhóm epidot, và có công thức hóa học là Ca2Al3(SiO4)(Si2O7)O(OH). Zoisit được đặt theo tên nhà khoa học Slovenia Baron Sigmund Zois von Edelstein (Žiga Zois), ông đã nhận ra đây là một khoáng vật chưa được biết đến khi người bán khoáng vật Simon Prešern mang đến cho ông. Anh ta đã phát hiện nó ở vùng núi Saualpe (Svinška planina) của Carinthia năm 1805. Zoisit đầu tiên được gọi là saualpite theo loại địa phương của nó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]