Đất bùn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đất bùn hay bột là các loại hạt đất hay đá với kích thước xác định trong một khoảng nhỏ (xem kích thước hạt). Trong thang đo Wentworth, các hạt đất bùn có kích thước trong khoảng 1256 tới 116 mm (3,9 tới 62,5 μm), lớn hơn hạt sét nhưng nhỏ hơn cát. Trong thực tế, xét về thành phần hóa học thì đất bùn khác với đất sét, và kích thước của nó thì gối lên nhau. Theo Hệ thống phân loại đất thống nhất (USCS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và Hệ thống phân loại đất AASHTO, sự khác biệt cát-đất bùn được thể hiện ở kích thước hạt 0,075 mm (nghĩa là vật liệu vượt qua ngưỡng mắt sàng #200), cũng như đất bùn và đất sét được phân biệt bởi độ dẻo của chúng.

Đất bùn được tạo ra bởi quá trình phong hóa cơ học của đá, ngược lại với quá trình phong hóa hóa học tạo ra đất sét. Quá trình phong hóa cơ học này có thể do sự mài mòn của sông băng, gió (quá trình tạo cát của gió) cũng như sự xói mòn của nước đối với đá dưới lòng sông hay suối. Đất bùn đôi khi còn được gọi là 'bột đá' hay 'bụi đá', đặc biệt khi được tạo ra do hoạt động của sông băng. Đất bùn được bồi đắp do ngập lụt hàng năm dọc theo các con sông, chẳng hạn như sông Nin, đã tạo ra các lớp đất phù sa màu mỡ và giàu chất dinh dưỡng.

Đất bùn cũng có thể được tạo ra như là trầm tích hay như là các vật liệu được vận chuyển bởi các dòng nước hay dòng hải lưu dưới các đại dương. Đất bùn dễ dàng được vận chuyển trong nước và đủ mịn để có thể được không khí vận chuyển đi xa như là 'bụi'. Các lớp trầm tích dày chứa đất bùn được tạo ra từ sự lắng đọng bởi gió thông thường được gọi là hoàng thổ (loess trong tiếng Đức) hay limon (trong tiếng Pháp). Đất bùn và đất sét tạo ra độ đục của nước.

Thành phần chủ yếu của đá trầm tích chứa đất bùn gọi là đá bùn.

Trong đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bùn

Bùn trong đời sống thông thường là hỗn hợp lỏng hay bán lỏng của nước và đất, hay trầm tích. Nói theo thuật ngữ địa chất thì bùn là hỗn hợp của nước với các hạt đất bùn (bột) hay đất sét (sét) và/hoặc hệ keo (colloid). Các trầm tích bùn cổ bị cứng lại theo thời gian địa chất để tạo ra đá bùn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]