Apollo 6

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Apollo 6
Apollo 6 launch.jpg
Launch of Apollo 6 (identifiable by its white-painted service module) as seen from the top of the launch tower
Dạng nhiệm vụTest flight
Nhà đầu tưNASA
COSPAR ID1968-025A
SATCAT №3170
Thời gian nhiệm vụ9 hours 57 minutes 20 seconds
Quỹ đạo đã hoàn thành3
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Thiết bị vũ trụ
Apollo CSM-020
  • Apollo LTA-2R
Nhà sản xuấtNorth American Rockwell
Trọng lượng phóng
  • Total: 36,931 kilôgam (81,420 lb)
  • CSM: 25,138 kilôgam (55,420 lb)
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóngApril 4, 1968, 12:00:01 (1968-04-04UTC12:00:01Z) UTC
Tên lửaSaturn V SA-502
Địa điểm phóngKennedy LC-39A
Kết thúc nhiệm vụ
Phục hồi bởiUSS Okinawa
Ngày hạ cánhApril 4, 1968, 21:57:21 (April 4, 1968, 21:57:21) UTC
Nơi hạ cánh27°40′B 157°55′T / 27,667°B 157,917°T / 27.667; -157.917 (Apollo 6 splashdown)
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuGeocentric
Chế độHighly elliptical orbit
Củng điểm quỹ đạo32 kilômét (17 nmi)
Củng điểm quỹ đạo22.533 kilômét (12.167 nmi)
Độ nghiêng quỹ đạo32.6 degrees
Chu kỳ quỹ đạo389.3 minutes
Kỷ nguyênApril 4, 1968[1]
----
Apollo program
← Apollo 5 Apollo 7

Apollo 6 (còn được gọi là AS-502), ra mắt vào ngày 4 tháng 4 năm 1968, là nhiệm vụ loại thứ hai của chương trình Apollo Hoa Kỳ, một cuộc thử nghiệm không người lái của tên lửa đẩy Saturn V. Đây cũng là nhiệm vụ kiểm tra Apollo không người lái cuối cùng.

Mục tiêu của bài kiểm tra bay là chứng minh khả năng đẩy tàu vào quỹ đạo Mặt Trăng của tên lửa Saturn V với trọng tải mô phỏng bằng khoảng 80% của một tàu vũ trụ Apollo đầy đủ, và lặp lại trình diễn khả năng của tấm chắn nhiệt của Mô-đun Lệnh (Command Module) để chịu được quá trình tái nhập vào khí quyển của Mặt Trăng. Kế hoạch bay yêu cầu một quá trình đẩy dùng tên lửa với quá trình quay về trực tiếp bằng cách sử dụng động cơ chính của Mô-đun Lệnh/Dịch vụ (CSM), với tổng thời gian bay khoảng 10 giờ.

Một hiện tượng được gọi là dao động pogo đã phá hủy một số động cơ Rocketdyne J-2 trong giai đoạn thứ hai và thứ ba bằng cách phá vỡ các đường nhiên liệu bên trong, khiến hai động cơ thứ hai đóng sớm. Hệ thống hướng dẫn trên tàu vũ trụ đã có thể bù đắp bằng cách đốt cháy các giai đoạn thứ hai và thứ ba lâu hơn, mặc dù quỹ đạo chờ quay quanh Trái Đất kết quả là hình elip cong hơn so với kế hoạch. Động cơ giai đoạn thứ ba bị hỏng cũng không thể khởi động lại để đẩy tàu vào một quỹ đạo quay quanh Mặt Trăng. Bộ điều khiển chuyến bay được chọn để lặp lại cấu hình chuyến bay của bài kiểm tra Apollo 4 trước đó, đạt được quỹ đạo cao và tốc độ quay lại cao nhờ sử dụng mô-đun Dịch vụ Mô-đun (SM). Bất chấp những hỏng hóc của động cơ, chuyến bay đã khiến NASA đủ tự tin để sử dụng tên lửa đẩy Saturn V cho những chuyến bay có người lái. Kể từ khi Apollo 4 đã chứng minh khả năng S-IVB có thể khởi động lại và kiểm tra lá chắn nhiệt ở tốc độ tái nhập vào mặt trăng hoàn toàn, một chuyến bay không người lái thứ ba tiềm năng đã bị hủy bỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McDowell, Jonathan. “SATCAT”. Jonathan's Space Pages. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014.