Bán khống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

"BÁN KHỐNG" LÀ ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 33 DH11KIO2 KHOA KINH TẾ VÀ LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH - BÀI VIÊT ĐƯỢC TỔNG HỢP TỪ NHIỀU NGUỒN, ĐANG CẬP NHẬT VÀ BỔ SUNG BỞI LÊ ĐÌNH ĐẠI.

BÁN KHỐNG CHỨNG KHOÁN - BÁN KHỐNG
  • 1. Khái niệm về bán khống


Bán khống thực chất là hoạt động bán cổ phiếu mà người bán không sở hữu vào thời điểm thực hiện giao dịch. Khi bán khống, chứng khoán thường được mượn từ tài khoản của nhà môi giới và bán trong trường hợp dự đoán giá chứng khoán giảm, và mua lại với giá thấp hơn trong tương lai nhằm thu lợi. Câu ngạn ngữ “Mua thấp, bán cao” có thể áp dụng để nói tới một giao dịch bán khống. Đây chỉ là lệnh giao dịch được đảo ngược trong trường hợp bán khống - cổ phiếu được bán với mức giá cao và được mua lại sau đó với mức giá thấp hơn theo kỳ vọng của người bán khống.

:::::::Một giao dịch bán khống điển hình gồm có 3 bên tham gia (Người chủ hay người cho vay chứng khoán; Người bán khống và Người mua mới), không giống như giao dịch mua bán cổ phiếu bình thường chỉ bao gồm có 2 bên là người mua và người bán.

:::::::Một người bán khống được yêu cầu phải mở tài khoản ký quỹ với nhà môi giới và ký một hợp đồng trong đó nêu rõ rằng anh ta sẽ duy trì một khoản ký quỹ bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu để làm thế chấp. Tài khoản ký quỹ cho phép anh ta có thể vay chứng khoán từ môi giới, dựa trên giá trị danh mục của anh ta (thông thường là ít nhất 50% giá trị giao dịch bán khống).

  • 2. Lịch sử phát triển bán khống và các quy định pháp lý về bán khống hiện tại trên thế giới

:::::::Giao dịch bán khống đầu tiên trên thế giới được cho là diễn ra vào năm 1609 khi một thương nhân người Hà Lan tên là Le Maire, cổ đông lớn của Công ty Vereenigde Oostindische Compagnie (VOC - một công ty Hà Lan liên kết với Đông Ấn) gây ra sự suy giảm mạnh giá cổ phiếu của Công ty. Vào năm 1602, ông Le Maire đầu tư 85.000 đồng Florin Hà Lan (hay còn gọi là Euro guilder - Guilder Antillean Hà Lan (ANG)) vào Công ty VOC. Đến năm 1609, VOC vẫn chưa trả cổ tức, và cùng thời điểm đó, con tàu của Le Maire đang trên lộ trình hàng hải trên biển Baltic thì bị đe dọa tấn công liên tục bởi tàu của nước Anh vì mâu thuẫn thương mại giữa người Anh và Công ty VOC. Le Maire quyết định bán cổ phiếu của ông và thậm chí bán nhiều hơn cả những gì ông hiện có. Do áp lực từ phía Ban Giám đốc VOC, Chính phủ Hà Lan đã cho đây là hành động vi phạm pháp luật và từng bước bãi bỏ việc bán cổ phiếu trước ngày thanh toán mà người bán không sở hữu ở thời điểm thực hiện việc bán ra. Ở thời hiện đại, Marchi and Harrison - hai nhà phân tích kinh tế nổi tiếng thế giới (1994), cho rằng đó là một lệnh cấm giao dịch bán khống. Lệnh cấm này bị thu hồi 2 năm sau đó. Bán khống đã bị lên án gay gắt, sớm nhất là kể từ thế kỷ 18 khi Anh cấm bán khống trao tay. Nó được nhìn nhận như một hiệu ứng khuếch đại trong sự suy giảm nghiêm trọng của thị trường Hà Lan trong thế kỷ 17. Một ví dụ điển hình khác, George Socos trở thành một kẻ lừa đảo khét tiếng với việc “phá tan hệ thống Ngân hàng Trung ương Anh (BOE)” vào ngày thứ Tư đen tối năm 1992 khi ông này bán khống hơn 10 tỷ USD giá trị của đồng bảng Anh.

:::::::Từ “bán khống” được sử dụng kể từ giữa thế kỷ 19. Bán khống được cho là nguyên nhân của vụ sụp đổ phố Wall năm 1929. Các quy định quản lý bán khống đã được thực thi từ năm 1929 đến 1940 tại Mỹ. Hậu quả chính trị từ vụ sụp đổ này đã dẫn tới việc Quốc hội ban hành một luật cấm bán khống bằng việc bán cổ phiếu ra trong thời kỳ thị trường suy giảm; quy định quản lý này được biết đến là “quy tắc đánh dấu lên” và có hiệu lực cho tới tận năm 2007. Thủ tướng Herbert Hoover lên án bán khống và thậm chí J. Edgar Hoover cho rằng ông sẽ điều tra bán khống về vai trò của nó đối với việc kéo dài suy thoái. Các quy định đưa ra vào năm 1940 cấm các quỹ tương hỗ bán khống (luật này đã được dỡ bỏ năm 1997). Một vài năm sau đó, năm 1949, Alfred Winslow Jones sáng lập một quỹ (không bị kiểm soát) mua vào cổ phiếu khi bán khống những cổ phiếu khác, vì vậy bảo hiểm rủi ro thị trường và quỹ đầu tư rủi ro mạo hiểm ra đời từ đó. Một số ví dụ điển hình của việc bán khống điên loạn trong suốt thời kỳ “bong bóng kinh tế”, chẳng hạn bong bóng dot-com. Ở thời kỳ đó, các nhà giao dịch bán khống bán ra với hy vọng một sự điều chỉnh của thị trường. Khi xuất hiện một tin xấu, chẳng hạn xảy ra một vụ kiện tụng đối với một công ty, cũng ngay lập tức lôi kéo những khách hàng thân thiết bán khống cổ phiếu. Cũng vì lý do này, vào tháng 9/2008, bán khống đã được cho là một yếu tố chủ chốt của những bất ổn không mong muốn trên TTCK Mỹ. Hậu quả là Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC) đã tạm thời cấm bán khống đối với 799 công ty tài chính trong một nỗ lực nhằm bình ổn giá thị trường của cổ phiếu công ty. Theo sau sự việc này là động thái cấm tương tự của các nhà quản lý thị trường ở Anh, Úc, Tây Ban Nha và một số nước nữa. Một lệnh khẩn cấp thứ 2 có hiệu lực kể từ ngày 22/9/2008 và sau cải biến nó có hiệu lực áp dụng kéo dài đến tháng 8/2009, yêu cầu các nhà quản lý của nhà đầu tư có tổ chức phải báo cáo hoạt động bán khống của họ. Nghiên cứu cẩn thận các động thái của cơ quan quản lý thời đó có thể giúp chúng ta đi tới kết luận rằng đó là một khoảng thời gian rất bận rộn đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Mỹ. Vào khoảng tháng 9/2008, các nhà quản lý của SEC đã đưa ra những quy định quản lý mới thậm chí chỉ 1 ngày sau khi vừa đưa ra những quy định quản lý về vấn đề này. Nếu như chúng ta theo dõi báo chí về SEC thì có thể thấy mỗi một lệnh ban hành khẩn cấp đều dựa trên cơ sở lợi ích chung và “để bảo vệ nhà đầu tư để duy trì và ổn định một TTCK công bằng và minh bạch”.

  • 3. Các loại hình bán khống
Bán khống có 2 loại:

- “Naked short selling” hay còn gọi là bán khống vô căn cứ, là việc người bán bán cổ phiếu mà anh ta không sở hữu mà không có cổ phiếu nào trong tay để thanh toán cho giao dịch. Giao dịch này không bị tính phí đi vay vì anh ta đã không vay cổ phiếu mà anh ta đã bán; tuy nhiên, thông thường anh ta phải chịu phí mà môi giới yêu cầu để nắm giữ vị thế mở. Khi đến thời điểm phải tất toán vị thế đoản (short position), người bán khống phải tìm kiếm một số lượng cổ phiếu tương đương sẵn có để anh ta có thể mua lại chúng và đóng vị thế đoản. Bán khống vô căn cứ thường được sử dụng cho giao dịch trong ngày, khi mà các vị thế được mở và đóng ở một vài thời điểm trong một ngày. Tương tự nếu nhà tạo lập thị trường không có đủ một nguồn cung cổ phiếu để đáp ứng yêu cầu của khách hàng khi họ cần thì nhà tạo lập thị trường có thể sử dụng bán khống vô căn cứ để đáp ứng nhu cầu đó;

- “Covered short selling” hay bán khống có bảo chứng thường bao gồm hàng loạt các giao dịch. Giai đoạn đầu tiên, người bán khống thường đi vay cổ phiếu họ cần để bán khống để chúng có thể được giao cho người mua khi thanh toán. Người bán khống sẽ nhận tiền từ việc bán cổ phiếu. Tiếp theo, giai đoạn hai, người bán thực hiện bán khống cổ phiếu. Giai đoạn ba, xảy ra vào thời điểm trong tương lai, anh ta mua lại đúng số lượng cổ phiếu mà anh ta đã vay để trả lại người cho vay. Giai đoạn bốn, các cổ phiếu được trả về người cho vay và các giao dịch được hoàn thành.

Ngoài thị trường giao ngay, bán khống cũng có thể được tiến hành đối với một số công cụ phái sinh, mặc dù một vài phương pháp ở đây được phòng ngừa bằng cách bán trên thị trường giao ngay. Ví dụ, đoản thế có thể được thực hiện thông qua hợp đồng tương lai (HĐTL) cổ phiếu riêng lẻ, HĐTL chỉ số, hợp đồng quyền chọn… Cách hữu hiệu để vay mượn chứng khoán có thể là một công cụ quan trọng để thực hiện bán khống.
  • 4. Mục đích sử dụng bán khống

Bán khống ngày nay được sử dụng cho rất nhiều mục đích không giống nhau. Theo Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) thì bán khống được sử dụng để thiết lập một vị thế đoản đối với 1 chứng khoán được coi là vượt quá giá trị, khi đó người bán khống tin rằng chứng khoán này có thể được mua lại với giá rẻ hơn trong tương lai. Bán khống cho phép nhà tạo lập thị trường - những người hiện không nắm giữ chứng khoán liên quan có thể đáp ứng yêu cầu lệnh mua của khách hàng. Ngoài ra, bán khống còn hỗ trợ chiến lược đầu tư mua bán, trong đó danh mục được phân chia giữa các trường thế và đoản thế với mục đích thu được lợi nhuận từ việc hoạt động tốt của việc nắm giữ trường thế thông qua đoản thế. Bán khống giúp cố định một khoản lợi nhuận chênh lệch khi một nhà kinh doanh chênh lệch giá (arbitrager) sử dụng sự khác biệt về giá giữa hai công cụ có liên quan bằng cách mua một công cụ rẻ và bán khống công cụ đó. Ngoài ra, bán khống còn hỗ trợ phòng ngừa rủi ro, đặc biệt đối với các hợp đồng phái sinh, bằng cách cho phép bất cứ ai đã cam kết mua chứng khoán để bù đắp rủi ro thị trường sẽ thiết lập một đoản thế tương ứng. Bán khống để cân bằng trường thế, với một mục đích cụ thể, ví dụ: bảo vệ một trường thế được nắm giữ với mục đích chiến lược hoặc nó có thể là một bất lợi tài chính khi thu lợi nhuận thông qua trường thế. Cuối cùng là, hoạt động bán khống hỗ trợ việc đưa một chứng khoán mới ra thị trườngsau khi các thủ tục pháp lý đã được chấp thuận hoặc theo quy luật bình ổn giá thị trường, ví dụ khi một người quản lý phát hành của công ty bán ra cổ phiếu để đáp ứng nhu cầu lớn về loại cổ phiếu đó khi họ biết trước rằng công ty chắc chắn sẽ phát hành thêm cổ phiếu để đáp ứng nhu cầu của họ khi họ thiếu hụt vì đã bán khống cổ phiếu đó lúc trước.

  • 5. Đối tượng thực hiện bán khống
Ở mỗi thị trường khác nhau lại có những đối tượng thực hiện bán khống khác nhau. Sự khác biệt này thể hiện ở các yếu tố như: cấu trúc vi mô thị trường (Ví dụ: vai trò của nhà tạo lập thị trường), tính thanh khoản (bởi vì tính thanh khoản thấp sẽ có nguy cơ cản trở các nhà quản lý quỹ và nhà đầu tư sử dụng chiến lược bán khống) và những giới hạn đối với giao dịch bán khống của các nhà quản lý thị trường hay các luật pháp và quy định về đầu tư.

:::::::Các nhà tạo lập thị trường (Market makers/principal dealers) đối với thị trường cổ phiếu, các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò hết sức quan trọng hay là trung gian chính hỗ trợ giao dịch khách hàng, những trung gian lớn này thường sẽ là một đối tượng chính của giao dịch bán khống. Họ có thể bán ra để đáp ứng lệnh đặt mua của khách hàng, với mục đích là kinh doanh độc quyền hay quản lý rủi ro chung đối với danh mục của họ.

:::::::Các quỹ rủi ro (hedge funds) - nhóm chính thứ hai sử dụng bán khống là quỹ rủi ro. Quỹ này thường linh hoạt từ hai phía của thị trường (bên mua, bên bán) hơn là các tổ chức đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí. Khi theo đuổi chiến lược lên xuống giá, họ chuẩn bị sẵn các tài sản nắm giữ ngắn hạn cũng như dài hạn (mặc dù lượng vốn ngắn hạn chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với tổng tài sản của quỹ). Khi chấp nhận một chiến lược thị trường trung tính hơn, họ sử dụng rất nhiều chiến lược ngắn hạn/dài hạn khác nhau được thiết kế để đảm bảo doanh thu trong mọi điều kiện biến động của thị trường bởi vì họ đã dự đoán chính xác xu hướng của giá tương ứng.

:::::::Các chủ thể khác hầu hết các nhà quản lý quỹ dài hạn lớn (ví dụ quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm) đều không sử dụng bán khống và đương nhiên các cổ đông dài hạn cũng được họ yêu cầu cấm không thực hiện các giao dịch bán khống, thể hiện trong các quy định quản lý cũng như các điều khoản hợp đồng quản lý đầu tư trong lĩnh vực quỹ mà họ quản lý. Vì thế các cá nhân muốn tham gia bán khống sẽ bị chi phối bởi các điều khoản trên và phụ thuộc vào cả quy tắc đầu tư của địa phương và văn hóa kinh doanh, cũng như các quy định pháp lý của địa phương. Ở một số thị trường, có phát sinh nhu cầu riêng lẻ đối với các dịch vụ bán khống và thị trường cho phép phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu này, đặc biệt là thông qua các điều khoản đối với các nhà môi giới hay các nhà cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán riêng lẻ.

  • 6. Hoạt động bán khống trên thị trường chứng khoán

:::::::Bán khống (short sales) là việc bán một chứng khoán mà người bán không sở hữu mà thay vào đó, người bán đi vay chứng khoán hoặc có đảm bảo chứng khoán có thể vay được để bán với mong muốn kiếm lợi nhuận bằng cách mua lại và trả lại chứng khoán đó khi giá chứng khoán giảm. :::::::Khi tiến hành mua lại, có hai trường hợp xảy ra: - Giá chứng khoán giảm: Nhà giao dịch đã mua lại được khối lượng chứng khoán đã vay để bán với giá thấp hơn giá đã bán và kiếm được lợi nhuận sau khi hoàn trả khối lượng chứng khoán đã bán trước đó.

- Giá chứng khoán tăng: Nhà giao dịch bị lỗ vì phải mua lại chứng khoán với giá cao hơn để hoàn trả lại khối lượng chứng khoán đã vay để bán (tức nhà đầu tư đã vay và bán chứng khoán ở mức giá thấp trong khi phải mua lại để hoàn trả ở mức giá cao). :::::::Trong thực tế, việc bán khống không phải chỉ được thực hiện bởi chính người đi vay chứng khoán để bán khống (covered shorts), mà có nhiều trường hợp việc bán khống được thực hiện bởi những đối tượng khác mà người bán không hề biết về việc đi vay,bán và chuyển giao chứng khoán đã bán khống (naked shorts) trên tài khoản của mình. Trường hợp này có thể xảy ra từ sự lợi dụng kẽ hở của pháp luật về chứng khoán cũng như những khác biệt trong hệ thống giao dịch và đa phần được coi là bất hợp pháp. :::::::Hoạt động bán khống có thể có những lợi ích sau đây:

- Giúp nhà đầu tư tạo lợi nhuận từ việc dự báo đúng giá chứng khoán giảm. - Giúp cho các nhà tạo lập thị trường có thể đáp ứng các nhu cầu mua của khách hàng đối với các chứng khoán mà nhà tạo lập thị trường hiện chưa sở hữu. - Khuyến khích giao dịch phòng ngừa rủi ro. :::::::Tuy vậy, với khả năng giao dịch bán khống không có đảm bảo như trên, những mặt hạn chế rõ nhất của hoạt động này là: - Gia tăng sức ép bán ra đối với chứng khoán, từ đó có thể gây hỗn loạn thị trường. - Ước đoán giảm giá có thể tạo cơ hội thao túng thị trường. :::::::Tại các nước, bán khống được điều chỉnh theo các quan điểm quản lý khác nhau: - Cho phép bán khống (ví dụ thị trường Mỹ, Nhật, Singapore): Các nước này cho rằng bán khống làm tăng tính thanh khoản và giúp định giá lại các cổ phiếu vốn đã bị đánh giá quá cao; đồng thời giúp phát triển các giao dịch phòng ngừa rủi ro và đầu cơ hưởng chênh lệch giá (tăng tính hấp dẫn). Mặt khác, những nước này cho rằng rào cản chi phí lớn (bao gồm chi phí chịu rủi ro lớn hoàn toàn có thể xảy ra nếu ước đoán giá giảm không xảy ra cộng với chi phí đi vay chứng khoán) sẽ khiến cho ý đồ thao túng thị trường không còn khả thi và vì thế không đáng lo ngại. Tuy nhiên, những nước áp dụng mô hình này thường không cho phép bán khống khi giao dịch chứng khoán trên thị trường có biểu hiện hỗn loạn. - Cấm bán khống hoặc cho phép có mức độ (ví dụ thị trường Úc, Hồng Kông): Các nước theo quan điểm này nhìn chung không cho phép giao dịch bán khống chứng khoán hoặc cho phép bán khống nhưng chỉ trong phạm vi các chứng khoán có tính thanh khoản cao và với một tỷ lệ bán khống hạn chế (ví dụ không quá 10%) so với khối lượng chứng khoán đang lưu hành, và không cho phép thực hiện bán khống trong thời gian đang tiến hành thủ tục thâu tóm doanh nghiệp. - Không có quy định cụ thể về bán khống (ví dụ thị trường chứng khoán Anh, Đức): Cơ quan quản lý thị trường không có quy định nào về hành vi bán khống, đồng nghĩa với việc không có hạn chế gì đối với việc bán khống cũng như không yêu cầu phải công bố thông tin về bán khống. :::::::Khác với nhóm quan điểm trên, mặc dù trên TTCK Việt Nam hiện nay chưa có quy định về nghiệp vụ bán khống, nhưng điều đó cũng không đồng nghĩa với việc cho phép thực hiện giao dịch bán khống. Để thực hiện việc bán khống đòi hỏi phải có những quy định chi tiết, cụ thể nhằm tránh những rủi ro cho thị trường.

Tổng Hợp Bởi : Lê Đình Đại - OU - Đại Học Mở TP Hồ Chí Minh