Bùi Hành Nghiễm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Bùi Hành Nghiễm (chữ Hán: 裴行俨, ? – 619), người quận Hà Đông [1], tướng lãnh cuối đời Tùy. Ông là nguyên mẫu của nhân vật Bùi Nguyên Khánh (裴元庆) trong các tiểu thuyết thông tục diễn nghĩa.

Trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai của tướng Tùy Bùi Nhân Cơ, theo Trương Tu Đà đánh dẹp nghĩa quân các nơi, tiêu biểu là Ngõa Cương trại. Là một viên tướng trẻ tuổi, dũng cảm, có sức khỏe siêu phàm nên ông đánh bại nhiều đại tướng Ngõa Cương trại và liên tiếp thắng lợi, nhưng lại chịu sự gièm pha, hãm hại của bọn giám quân, vì thế cha con ông giết chết giám quân, đầu hàng Ngõa Cương trại.

Về sau nghĩa quân Ngõa Cương giao chiến với Vương Thế Sung, Nhân Cơ hiến kế tập kích Lạc Dương, Lý Mật không theo. Lý Mật sau đó cho hai cha con ông cùng Trình Tri Tiết đi tăng viện cho Thiện Hùng Tín. Trong trận, ông bị trúng tên, suýt bị giết. Khi Lý Mật thất bại, cha con ông bị mắc kẹt ở gần Lạc Dương và bị Thế Sung bắt được. Thế Sung gả con gái cho ông, đối đãi với cha con ông rất hậu.

Hành Nghiễm tham gia vào vài trận chiến lớn, xung phong đánh trận, dũng cảm vô cùng, khó bề ngăn cản, đánh đâu tan đó, khiến kẻ thù khiếp đảm, nên ông được người đương thời tôn xưng là Vạn nhân địch. Thế Sung đâm ra kiêng dè uy danh của ông, tỏ ra đề phòng. Nhân Cơ biết ý, cùng bọn Vũ Văn Nho Đồng, Vũ Văn Ôn mưu lập Việt vương Dương Đồng. Năm 619, việc bị tiết lộ, cha con ông bị Thế Sung bắt chém ở Lạc Dương.

Trong tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các tiểu thuyết thông tục đời Thanh, Bùi Nguyên Khánh được xếp thứ 3 trong 18 hảo hán Tùy Đường [2], sử dụng Ngân chùy, tức là một trong Bát đại chùy [3].

Bùi Nguyên Khánh xuất hiện khi chưa được 20 tuổi, sức nâng được đỉnh nặng ngàn cân, sử dụng hai quả Bát lăng Hoa mai lượng ngân chùy, nặng 300 cân, không có địch thủ, chị gái Bùi Thúy Vân được gả cho Trình Giảo Kim. Ông theo cha là Sơn Mã Quan tổng binh Bùi Nhân Cơ 3 lần đánh Ngõa Cương trại, về sau bị Tần Thúc Bảo dùng kế thu phục. Trận đánh ở núi Tứ Minh, vô số binh tướng của 18 lộ phản vương chỉ có Nguyên Khánh tiếp được 3 chùy của Lý Nguyên Bá.

Trong Thuyết Đường, tại chiến dịch Ngũ Quan, Nguyên Khánh bị Hồng Nghê Quan tổng binh Tân Văn Lễ lừa vào núi Khánh Trụy mà thiêu chết. Trong Hưng Đường truyện, ông chết dưới phi đao của Nghiệt Thế Hùng. Còn trong Tùy Đường diễn nghĩa của Chử Nhân Hoạch, ông bị Lý Nguyên Bá đánh tử trận trong cuộc chiến tại núi Tứ Minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

"Binh khí"[sửa | sửa mã nguồn]

Thường mọi người luôn tin rằng ông sử dụng binh khí là song chùy, có lẽ đây cũng là hình tượng chính của ông. Tuy nhiên, sử sách ghi chép khá mơ hồ về trang bị của ông, nhưng có thể đoán rằng ông sử dụng song chùy hoặc mã sóc, nhưng chắc mã sóc là đáp án đúng hơn, sóc là một loại vũ khí cận chiến rất tốt. Bởi từ thời Nam - Bắc triều, vũ khí dùng phổ biến nhất cho các mãnh tướng cao cấp là mã sóc, từ tướng Cao Ngao Tào đến thời kì Tùy mạt Đường sơ như Tần Quỳnh, La Sĩ Tín, Thiện Hùng Tín, Trình Giảo Kim đều sử dụng mã sóc. Chùy cùng lắm chỉ là binh khí phụ trợ của ông mà thôi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được xét là người dũng cảm, không biết sợ là gì, có sức mạnh siêu phàm như Phàn Khoái, Kình Bố thời trước. Có giả định binh khí của ông nặng trên dưới 5, 6 chục cân càng thấy ông là một mãnh tướng. Tuy nhiên, có một lời đánh giá của bậc đời sau: "Mặc dầu là một tướng lĩnh dũng cảm, hay xung phong trước trận nhưng phục vụ và đầu quân sai thế lực đến ba lần: Tùy Dạng Đế tuy có trong dụng nhưng gian thần dưới quyền quá lộng hành, Lý Mật không trọng dụng, Thế Sung thì lại là kẻ quá hẹp hòi, tiểu nhân và hay đố kị, nên mới chết thảm". Phải chăng nếu nhanh chóng bỏ theo Đường thì đã có thể nổi danh thiên hạ, bình định loạn cát cứ khắp nơi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây
  2. ^ 18 hảo hán Tùy Đường là 1. Lý Nguyên Bá, 2. Vũ Văn Thành Đô, 3. Bùi Nguyên Khánh, 4. Hùng Khoát Hải, 5. Ngũ Vân Thiệu, 6. Ngũ Thiên Tích, 7. La Thành, 8. Ngụy Văn Thông, 9. Dương Lâm, 10. Tần Dụng (con trai Tần Thúc Bảo), 11. Tân Văn Lễ, 12. Thượng Sư Đồ, 13. Tần Thúc Bảo, 14. Uất Trì Cung, 15. Đan Hùng Tín, 16. Tô Định Phương, 17. Vương Bá Đương, 18. Vương Quân Khả
  3. ^ Bát đại chùy là danh xưng của 4 viên đại tướng sử dụng song chùy: Lý Nguyên Bá (Kim chùy), Bùi Nguyên Khánh (Ngân chùy), Tần Dụng (Đồng chùy), Lương Sư Thái hay Lương Sĩ Thái (Thiết chùy)