Babatha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tài liệu về sở hữu 4 vườn cây chà là của Babatha

Babatha là một phụ nữ Do Thái sống ở thành phố cảng Maoza (ngày nay thuộc Jordan) ở đầu thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên.

Năm 1960, nhà khảo cổ Yigael Yadin đã phát hiện một túi bằng da chứa các tài liệu riêng của bà ở bên trong nơi được gọi là Cave of Letters (Hang Thư), gần Biển Chết. Các tài liệu được tìm thấy gồm có các hợp đồng pháp lý liên quan đến hôn nhân, các vụ chuyển nhượng tài sản, và việc giám hộ. Những tài liệu này có từ năm 96 tới năm 134 sau Công nguyên, mô tả một bức tranh sinh động về cuộc sống của một phụ nữ Do Thái thuộc giai cấp trên trung lưu trong thời đại đó. Chúng cũng cung cấp một ví dụ về [[luật La Mã|| và hệ thống pháp luật mà bà đã trải qua.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Babatha sinh vào khoảng năm 104 sau Công Nguyên ở Maoza. Rất có thể bà là con một hoặc là con gái đầu lòng, nên bà được thừa kế vườn cây chà là của người cha khi cha mẹ bà qua đời. Năm 124, bà kết hôn, có một con trai nhỏ, Jesus, rồi góa chồng. Năm 125 bà đã tái hôn với Judah, chủ sở hữu của 3 vườn cây chà là ở Ein Gedi, người đã có một vợ và con gái tuổi thanh thiếu niên [1]. Không biết chắc là Babatha sống trong cùng một nhà với người vợ cả hay là Judah đi lại giữa hai hộ gia đình riêng biệt, như chế độ đa thê vẫn được cho phép trong cộng đồng Do Thái.[2]

Tài liệu pháp lý về hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các tài liệu liên quan đến cuộc hôn nhân này cho ta cái nhìn sâu sắc về cương vị của bà trong quan hệ hôn nhân. Trong hợp đồng hôn nhân của họ, khoản nợ của Judah trở thành một phần trách nhiệm pháp lý của bà, cho thấy một sự bình đẳng tài chính giữa vợ và chồng. Năm 128, một văn bản pháp lý cho thấy là Judah đã vay Babatha một khoản tiền không có lãi, cho thấy là bà kiểm soát tiền bạc của mình mặc dù sống chung với chồng. Sau cái chết của Judah vào năm 130, bà đã tịch thu bất động sản của Judah ở Ein Gedi như một đảm bảo cho các khoản nợ của ông mà bà có quyền lấy như đã nêu trong hợp đồng hôn nhân.[3]

Một tài liệu khác có tầm quan trọng liên quan đến việc giám hộ con trai của Babatha. Năm 125, Babatha đã kiện những người giám hộ được chỉ định của đứa con côi của mình, với lý do họ trả tiền không đủ chi phí. Tài liệu này gồm đơn của Babatha xin được chuyển giao toàn bộ trách nhiệm giám hộ và tài sản của con trai cho bà đảm nhận.[4]

Nơi qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Các tài liệu mới nhất được phát hiện trong một túi nhỏ liên quan tới một trát triệu tập ra tòa án EinGedi do người vợ cả của Judah, Miriam, đã kiện tranh chấp với Babatha liên quan đến tài sản của người chồng quá cố của họ. Vì vậy, người ta cho rằng năm 132 sau Công nguyên, Babatha cư ngụ gần Ein Gedi, đặt bà ở giữa cuộc nổi dậy Bar Kokhba (132-135). Có thể là Babatha đã chạy trốn bạo động của cuộc nổi dậy sắp xảy ra cùng với Miriam và gia đình. Do các tài liệu này không có ai tới lấy và do có 20 mảnh xương được tìm thấy gần đó, nên các sử gia cho rằng Babatha đã bị thiệt mạng trong khi trú ẩn ở hang động này.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Martin David Goodman: Babatha. In: The Oxford Classical Dictionary, 1996.
  2. ^ Richard A. Freund: Secrets of the Cave of Letters. Rediscovering a Dead Sea Mystery. Humanity Books, 2004, S. 199-207.
  3. ^ Richard A. Freund: Secrets of the Cave of Letters. Rediscovering a Dead Sea Mystery. Humanity Books, 2004, S. 199-200
  4. ^ Tiziana J. Chiusi: Babatha vs. The Guardians of Her Son: A Struggle for Guardianship - Legal and Practical Aspects of P. Yadin 12-15, 27. In: Ranon Katzoff; David Schaps (Hrsg.): Law in the Documents of the Judean Desert. Leiden: Brill, 2005, S. 201.
  5. ^ Richard A. Freund: Secrets of the Cave of Letters. Rediscovering a Dead Sea Mystery. Humanity Books, 2004, S. 201.

Sách viết về Babatha[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiusi, Tiziana J. (2005). “Babatha vs. The Guardians of Her Son: A Struggle for Guardianship – Legal and Practical Aspects of P. Yadin 12-15, 27”. Trong Ranon Katzoff and David Schaps. Law in the Documents of the Judean Desert. Leiden: Brill Academic. 
  • Goodman, Martin David (1996). “Babatha”. Trong Simon Hornblower and Antony Spawforth. The Oxford Classical Dictionary . 
  • Freund, Richard A. (2004). “A Tale of Two Caves: Babatha and Her-story”. Secrets of the Cave of Letters: Rediscovering a Dead Sea Mystery. Humanity Books. ISBN 978-1591022053.  book cite

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]