Breviceps macrops

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Breviceps macrops
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Amphibia
Bộ (ordo) Anura
Họ (familia) Microhylidae
Chi (genus) Breviceps
Loài (species) B. macrops
Danh pháp hai phần
Breviceps macrops
Boulenger, 1907
Breviceps macrops map-fr.svg

Breviceps macrops, hay còn gọi là Ếch mưa sa mạc (desert rain frog) là một loài ếch trong họ Nhái bầu. Loài này có ở NamibiaNam Phi.[2] Môi trường sống tự nhiên của chúng là vùng đất có cây bụi nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới and vùng bờ biển cát. Hiện nay chúng bị đe dọa vì mất môi trường sống.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loài ếch nhỏ, núng nính; mắt lồi, mũi ngắn, chi ngắn và chân màng. Mặt dưới của chúng có lớp da trong suốt, từ đó có thể thấy nội tạng. Lớp da màu nâu vàng và thường dính cát.[3] Khi cảm thấy bị đe doạ, chúng phát ra tiếng kêu nhỏ, tần số cao.[4]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Ếch mưa sa mạc này là loài đặc hữu ở dải đất rộng khoảng 10 km ở Namibia và Nam Phi. Những đụn cát nơi đây thường có sương mù biển giăng, cung cấp độ ẩm cho vùng khô hạn khác. Ở đây cùng có các cây chịu hạn, đến xuân thì chúng nở hoa. Nơi tìm thấy những con ếch hằng năm phải có ít nhất một trăm ngày ẩm ướt.[3]<

Đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Ếch mưa sa mạc là loài sống về đêm, ban ngày chúng trú ẩn trong hang có cát ẩm 10-20 centimét mà chúng đào. Chúng ra khỏi hang vào những đêm sương giăng hay không sương, lang thang trên những cồn cát. Dấu chân thường được tìm thấy quanh các bãi phân, người ta cho rằng chúng ăn ấu trùng của côn trùng, bọ và bướm đêm. Đến sáng chúng lại đào hang vào trong cát, sự hiện diện của chúng có thể nhận ra những đống cát nhỏ hình thành do hoạt động đào xới.[5]

Trứng của chúng được đẻ trong hang và phát triển trực tiếp thành ếch mà không thông qua giai đoạn trung gian phát triển thành nòng nọc.[1]

Tình trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ếch mưa sa mạc được xếp vào diện sắp nguy cấp trong Sách Đỏ. Số lượng cá thể suy giảm, rải rác và địa bàn phân bố ít hơn 2000 km². Môi trường sống của chúng đang bị đe doạ do hoạt động khai thác mỏ kim cương, làm đường và bành trướng dân cư của con người.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Minter, L.; Channing, A.; Harrison, J. (2004). Breviceps macrops. IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012. 
  2. ^ Frost, Darrel R. (2013). “Names described as 'Breviceps macrops'”. Amphibian Species of the World: an Online Reference. Version 5.6 (9 January 2013). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  3. ^ a ă Castillo, Nery (23 tháng 6 năm 2011). Breviceps macrops. AmphibiaWeb. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012. 
  4. ^ World's Cutest Frog, Youtube
  5. ^ Carruthers, V. C.; Passmore, N. I. (1978). “A note on Breviceps macrops Boulenger”. Journal of the Herpetological Association of Africa 18 (1): 13–15. doi:10.1080/04416651.1978.9650950. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Breviceps macrops tại Wikimedia Commons