Công ước về Hàng không Dân dụng Quốc tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Công ước về Hàng không Dân dụng Quốc tế
Air Berlin B737-700 Dreamliner D-ABBN.jpg
Convention on International Civil Aviation
Tên viết tắt CICA
Thành lập 1944
Loại Công ước quốc tế
Vị trí
  • Chicago
Vùng phục vụ
Toàn cầu
Ngôn ngữ chính
Tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga
Trang web CICA website

Công ước về Hàng không Dân dụng Quốc tế, viết tắt là CICA (Convention on International Civil Aviation), còn gọi là Công ước Chicago do được ký tại Chicago (Hoa Kỳ), là công ước được Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO), một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, đảm trách điều phối và điều chỉnh giao thông hàng không quốc tế.

Công ước có những quy định không phận, đăng ký máy bay và an toàn, và chi tiết về các quyền của các bên ký kết liên quan đến giao thông hàng không. Công ước cũng quy định đối với thuế các loại nhiên liệu máy bay thương mại.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn bản Công ước đã được ký kết vào ngày 07/12/1944 tại Chicago, Mỹ, với 52 thực thể tham gia ký kết.[2]

Sau đó nó được sự phê chuẩn ngày 05/03/1947 và có hiệu lực vào ngày 04/04/1947, cùng ngày mà ICAO ra đời. Trong tháng 10 năm đó, ICAO đã trở thành một cơ quan chuyên trách thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC).[3]

Công ước đã được sửa đổi tám lần (1959, 1963, 1969, 1975, 1980, 1997, 2000 và 2006).

CÔNG ƯỚC VỀ HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG QUỐC TẾ[*][sửa | sửa mã nguồn]

(Ký tại Chicago ngày 07 tháng 12 năm 1944)

LỜI NÓI ĐẦU[sửa | sửa mã nguồn]

Xét rằng sự phát triển trong tương lai của ngành Hàng không dân dụng quốc tế có thể giúp đỡ lớn lao cho việc tạo ra và giữ gìn tình hữu nghị và hiểu biết giữa các dân tộc và nhân dân trên thế giới, song việc lạm dụng nó có thể trở thành mối đe doạ đối với nền an ninh chung; và

Xét rằng mọi người đều mong muốn tránh sự xung đột và tăng cường sự hợp tác giữa các dân tộc và nhân dân mà nền hòa bình của thế giới phụ thuộc vào đó;

Vì vậy các Chính phủ ký kết dưới đây đã thống nhất một số nguyên tắc và thỏa thuận để ngành hàng không dân dụng có thể phát triển một cách an toàn và trật tự và để các dịch vụ vận chuyển hàng không dân dụng quốc tế có thể được thiết lập trên cơ sở bình đẳng về cơ hội khai thác một cách chính đáng và kinh tế;

Cùng nhau ký kết Công ước này nhằm mục đích trên.

Phần 1. KHÔNG LƯU[sửa | sửa mã nguồn]

Chương 1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC

Điều 1. Chủ quyền

Các Quốc gia ký kết công nhận rằng mỗi Quốc gia đều có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt trên khoảng không gian bao trùm lãnh thổ của mình.

Điều 2. Lãnh thổ

Vì mục đích của Công ước này, lãnh thổ của một Quốc gia được coi là những vùng đất và lãnh hải tiếp giáp thuộc chủ quyền, bá quyền, quyền bảo hộ hoặc quyền ủy trị của Quốc gia đó.

Điều 3.[†] Tầu bay dân dụng và tầu bay nhà nước

a) Công ước này chỉ áp dụng đối với tầu bay dân dụng, và không áp dụng đối với tầu bay nhà nước.

b) Tầu bay dùng phục vụ quân sự, hải quan và cảnh sát được coi là tầu bay nhà nước

c) Không một tầu bay nào của một Quốc gia ký kết được bay qua lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác hoặc hạ cánh xuống đó mà không được phép bằng sự thoả thuận đặc biệt hoặc bằng cách khác, và phải tuân thủ các điều kiện của giấy phép đó.

d) Các Quốc gia ký kết cam kết rằng phải xem xét tới an toàn bay của tầu dân dụng khi ban hành các quy định đối với tầu bay nhà nước của mình.

Điều 4. Lạm dụng ngành hàng không dân dụng

Mỗi Quốc gia ký kết thỏa thuận không sử dụng ngành hàng không dân dụng vào bất kỳ mục đích nào không phù hợp với mục tiêu của Công ước này.

Chương 2. BAY TRÊN LÃNH THỔ CỦA CÁC QUỐC GIA KÝ KẾT

Điều 5. Quyền của chuyến bay không thường lệ

Mỗi Quốc gia ký kết thoả thuận rằng tất cả các tầu bay của các Quốc gia ký kết khác mà là các tầu bay không thực hiện các chuyến bay quốc tế thường lệ có quyền, phụ thuộc vào việc tuân thủ các điều kiện của Công ước này, bay vào hoặc bay qua không hạ cánh trên lãnh thổ của nước mình và có quyền hạ cánh không nhằm mục đích thương mại mà không cần có phép trước, và phụ thuộc vào quyền của Quốc gia bay qua buộc tầu bay hạ cánh. Tuy nhiên, vì lý do an toàn của chuyến bay, mỗi Quốc gia ký kết có quyền buộc tầu bay bay theo các đường quy định hoặc có phép đặc biệt cho các chuyến bay khi bay qua những vùng khó bay vào hoặc những vùng không có đầy đủ các phương tiện bảo đảm không lưu.

Nếu việc vận chuyển hành khách, hàng hóa và bưu kiện để kiếm lời mà không phải là vận chuyển trên các chuyến bay quốc tế thường lệ, thì các tầu bay nói trên cũng có những đặc quyền, phụ thuộc vào các quy định ở Điều 7, hoặc trả hành khách, hàng hóa, hoặc bưu kiện phụ thuộc vào quyền của Quốc gia nơi tiến hành lấy hoặc trả hành khách, hàng hóa, hoặc bưu kiện mà áp đặt các quy định, điều kiện hoặc giới hạn khi Quốc gia đó cho là cần thiết.

Điều 6. Chuyến bay thường lệ

Không chuyến bay quốc tế thường lệ nào có thể được thực hiện trên hoặc trong lãnh thổ của một Quốc gia ký kết, trừ khi được phép đặc biệt hoặc phép nào khác của Quốc gia đó và phải tuân theo các điều kiện của những giấy phép đó.

Điều 7. Quyền vận chuyển nội địa

Mỗi Quốc gia ký kết có quyền từ chối cho phép tầu bay của các Quốc gia ký kết khác lấy hành khách, bưu kiện và hàng hóa trong lãnh thổ của mình để vận chuyển đến điểm khác trên lãnh thổ của mình nhằm mục đích kiếm lời. Mỗi Quốc gia đã ký cam kết sẽ không ký kết bất kỳ một thoả thuận nào khác để cấp bất kỳ một độc quyền nào như vậy trên cơ sở độc quyền cho bất kỳ Quốc gia nào khác hoặc một hãng hàng không của bất kỳ Quốc gia nào khác và cũng không nhận một đặc quyền nào có tính chất độc quyền như vậy do bất kỳ Quốc gia nào khác cấp.

Điều 8. Tầu bay không người lái

Không tầu nào có khả năng bay không người lái được bay không người lái trên lãnh thổ của một Quốc gia ký kết mà không có phép đặc biệt của Quốc gia này và phải tuân theo những điều kiện của giấy phép đó. Mỗi Quốc gia ký cam kết bảo đảm rằng chuyến bay của tầu bay không người lái trong khu vực dành cho tầu bay dân dụng phải được kiểm soát để tránh nguy hiểm cho tầu bay dân dụng.

Điều 9. Khu vực cấm

a) Vì lý do cần thiết về quân sự hoặc an toàn công cộng, mỗi Quốc gia ký kết có thể hạn chế hoặc cấm một cách đồng đều tầu bay của các Quốc gia khác bay trên một số khu vực trong lãnh thổ của mình, với điều kiện không có sự phân biệt giữa tầu bay thực hiện chuyến bay quốc tế thường lệ của Quốc gia mình với tầu bay thực hiện chuyến bay như vậy của Quốc gia ký kết khác. Những khu vực cấm như vậy phải có giới hạn và địa điểm hợp lý để không gây nên những cản trở không cần thiết đối với giao lưu hàng không. Việc ấn định những khu vực cấm đó trong lãnh thổ của một Quốc gia ký kết, cũng như bất kỳ một sự thay đổi nào về sau phải được thông báo ngay lập tức tới các Quốc gia ký kết khác và tổ chức hàng không dân dụng quốc tế.

b) Trong những hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong hoàn cảnh khẩn cấp hoặc vì lợi ích an toàn công cộng, mỗi Quốc gia ký kết cũng có quyền hạn chế hoặc cấm tạm thời, và có hiệu lực ngay lập tức, việc bay trên toàn bộ hoặc bất kỳ phần nào trên trong lãnh thổ của mình, với điều kiện việc hạn chế và cấm đó cũng được áp dụng không phân biệt quốc tịch tầu bay của tất cả các Quốc gia khác.

c) Mỗi Quốc gia ký kết có thể buộc bất kỳ tầu bay nào bay vào những khu vực đã nói ở điểm a hoặc b ở trên hạ cánh ngay xuống các cảng hàng không được chỉ định trong lãnh thổ của mình theo các quy định mà Quốc gia này đã ban hành.

Điều 10. Hạ cánh tại cảng hàng không có hải quan

Trừ trường hợp tầu bay được phép bay qua lãnh thổ của Quốc gia ký kết không hạ cánh theo những điều kiện của Công ước này hoặc một phép đặc biệt, mọi tầu bay bay vào lãnh thổ của một Quốc gia ký kết phải hạ cánh tại một cảng hàng không được Quốc gia đó chỉ định để chịu sự kiểm tra hải quan và các việc kiểm tra khác, nếu Quốc gia đó có các quy định yêu cầu như vậy. Khi rời khỏi lãnh thổ của Quốc gia ký kết, tầu bay phải khởi hành tại một cảng hàng không có hải quan được chỉ định tương tự. Các đặc tính của cảng hàng không có hải quan được chỉ định được Quốc gia này công bố và chuyển tới tổ chức hàng không dân dụng quốc tế thành lập theo phần 2 của Công ước này để thông báo tới tất cả các Quốc gia ký kết khác.

Điều 11. Áp dụng các quy định về hàng không

Lệ thuộc vào các quy định của Công ước này, pháp luật và các quy tắc của các Quốc gia ký kết liên quan tới việc vào hoặc ra khỏi lãnh thổ của mình đối với tầu bay thực hiện giao lưu hàng không quốc tế hoặc liên quan tới việc khai thác và hoạt động của tầu bay đó trong lãnh thổ của mình phải được áp dụng đối với tầu bay của tất cả các Quốc gia ký kết không phân biệt quốc tịch và tầu bay này phải tuân thủ pháp luật và quy tắc đó khi vào, ra hoặc khi đang ở trong lãnh thổ của Quốc gia này.

Điều 12. Quy tắc không lưu

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết đưa ra các biện pháp bảo đảm rằng mọi tầu bay bay qua hoặc hoạt động trong lãnh thổ của mình và mọi tầu bay mang dấu hiệu quốc tịch của mình bất kể tầu bay đó ở đâu đều phải tuân thủ các quy tắc và quy định liên quan đến việc bay và hoạt động của tầu bay ở nơi mà quy tắc và quy định này có hiệu lực. Mỗi Quốc gia ký kết cam kết duy trì các quy định của mình đối với lĩnh vực này đồng nhất với các quy định được thiết lập trong phạm vi rộng lớn nhất có thể, theo Công ước này. Trên công hải, những quy tắc có hiệu lực là những quy tắc được thiết lập theo Công ước này. Mỗi Quốc gia ký kết cam kết khởi tố tất cả những kẻ vi phạm các quy định hiện hành.

Điều 13. Quy định về nhập cảnh và xuất cảnh

Pháp luật và quy định của Quốc gia ký kết liên quan tới việc hành khách, tổ bay hoặc hàng hóa của tầu bay bay vào hoặc bay ra khỏi lãnh thổ của Quốc gia đó như các quy định về nhập cảnh, xuất cảnh, thủ tục xuất nhập cảnh, hộ chiếu, hải quan; y tế phải được hành khách, tổ bay hoặc đại diện của họ tuân thủ khi vào hoặc ra, hoặc đang ở trong lãnh thổ của Quốc gia này, áp dụng kể cả đối với hàng hóa.

Điều 14. Ngăn ngừa lây lan dịch bệnh

Mỗi Quốc gia ký kết đồng ý áp dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa lây lan qua đường hàng không các bệnh dịch tả, đậu lào, đậu mùa, sốt vàng da, dịch hạch và các bệnh truyền nhiễm khác mà các Quốc gia ký kết chỉ định, và vì mục đích này các Quốc gia ký kết phải duy trì việc thảo luận chặt chẽ với các cơ quan liên quan tới các quy định quốc tế về các biện pháp y tế áp dụng đối với tầu bay. Việc thảo luận đó không ảnh hưởng tới việc áp dụng bất kỳ Công ước quốc tế hiện hành nào về vấn đề này mà Quốc gia ký kết là thành viên.

Điều 15. Lệ phí sân bay và các lệ phí tương tự

Mọi cảng hàng không của Quốc gia ký kết được mở ra cho tầu bay của mình sử dụng công cộng, thì cũng mở ra tầu bay của tất cả các Quốc gia ký kết khác phụ thuộc vào các quy định của Điều 68, dưới những điều kiện đồng nhất. Những điều kiện đồng nhất như vậy phải áp dụng đối với việc sử dụng các phương tiện bảo đảm không lưu của tầu bay thuộc mọi Quốc gia ký kết, kể cả dịch vụ vô tuyến và khí tượng, có thể được cung cấp nhằm mục đích sử dụng công cộng cho việc an toàn và mau lẹ của không lưu.

Bất kỳ lệ phí nào của một Quốc gia ký kết ấn định hoặc cho phép ấn định đối với việc tầu bay của bất kỳ Quốc gia ký kết nào sử dụng cảng hàng không và các phương tiện bảo đảm không lưu phải không được cao hơn.

a) Trong trường hợp tầu bay không thực hiện việc vận chuyển hàng không dân dụng quốc tế thường lệ, khoản lệ phí đánh vào tầu bay của Quốc gia mình cùng thực hiện việc khai thác tương tự; và

b) Trong trường hợp tầu bay thực hiện vận chuyển hàng không quốc tế thường lệ, khoản lệ phí đánh vào tầu bay của Quốc gia mình thực hiện vận chuyển hàng không quốc tế tương tự.

Tất cả các khoản lệ phí phải được công bố và thông báo với Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, miễn là các lệ phí đánh vào việc sử dụng các cảng hàng không và các phương tiện, bảo đảm khác phải được Quốc gia ký kết liên quan trình lên Hội đồng xem xét, Hội đồng đưa ra báo cáo và khuyến nghị về vấn đề này để Quốc gia hoặc các Quốc gia liên quan xem xét.

Không một Quốc gia nào được ấn định bất kỳ một khoản lệ phí hoặc thuế nào khác chỉ nhằm vào quyền bay qua, bay vào hoặc bay ra khỏi lãnh thổ của mình đối với bất kỳ tầu bay của Quốc gia ký kết hoặc người hoặc tài sản trên tầu bay đó.

Điều 16. Khám xét tầu bay

Nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi Quốc gia ký kết có quyền khám xét tầu bay của các Quốc gia ký kết khác khi hạ cánh hoặc khởi hành và có quyền kiểm tra chứng chỉ và các giấy tờ khác được Công ước này quy định, nhưng không được gây chậm trễ vô lý.

Chương 3. QUỐC TỊCH CỦA TẦU BAY

Điều 17. Quốc tịch của tầu bay

Tầu bay có quốc tịch của Quốc gia mà tầu bay đăng ký.

Điều 18. Đăng ký kép

Một tầu bay không thể được đăng ký tại hai hoặc nhiều Quốc gia, nhưng đăng ký của tầu bay có thể đổi từ Quốc gia này sang Quốc gia khác.

Điều 19. Luật Quốc gia điều chỉnh việc đăng ký

Việc đăng ký hoặc chuyển đăng ký của tầu bay tại bất kỳ Quốc gia ký kết nào được thực hiện phù hợp với pháp luật của Quốc gia đó.

Điều 20. Mang dấu hiệu

Mọi tầu bay thực hiện giao lưu hàng không quốc tế phải mang dấu hiệu đăng ký và quốc tịch thích hợp.

Điều 21. Thông báo đăng ký

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết cung cấp cho bất kỳ Quốc gia ký kết nào khác hoặc Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, theo yêu cầu, những thông tin liên quan tới việc đăng ký và quyền sở hữu bất kỳ tầu bay cụ thể nào tại Quốc gia đó. Hơn nữa, mỗi Quốc gia ký kết phải thông báo cho Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, theo những quy định mà tổ chức này có thể ban hành, những số liệu thích hợp có thể có giá trị liên quan tới quyền sở hữu và sự kiểm soát các tầu bay đăng ký tại Quốc gia này và thường xuyên thực hiện giao lưu hàng không quốc tế. Theo yêu cầu của các Quốc gia ký kết khác, Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế phải chuyển các số liệu đã nhận được tới các Quốc gia này.

Chương 4. BIỆN PHÁP ĐƠN GIẢN HÓA KHÔNG LƯU

Điều 22. Đơn giản hóa thủ tục

Mỗi Quốc gia ký kết đồng ý đưa ra tất cả các biện pháp thực hành thông qua việc ban hành các quy định đặc biệt hoặc bằng cách khác để đơn giản hoá thủ tục và làm nhanh chóng cho giao thông của tầu bay giữa các lãnh thổ của các Quốc gia ký kết và để ngăn chặn việc chậm trễ không cần thiết đối với tầu bay, tổ bay, hành khách và hàng hóa, nhất là trong việc thi hành pháp luật về thủ tục xuất, nhập cảnh, y tế, hải quan và khởi hành.

Điều 23. Thủ tục hải quan và xuất, nhập cảnh

Trong chừng mực có thể thực hiện được, mỗi Quốc gia ký kết cam kết thiết lập thủ tục hải quan và xuất, nhập cảnh liên quan tới giao lưu Hàng không quốc tế phù hợp với cách thực hành mà có thể thiết lập hoặc khuyến nghị từng thời gian theo Công ước này, Không điều nào trong Công ước được hiểu là cản trở việc thiết lập các cảng hàng không miễn thuế hải quan.

Điều 24. Thuế hải quan

a) Tầu bay thực hiện chuyến bay bay vào, ra hoặc qua lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác được tạm thời miễn thuế, phụ thuộc vào các quy định về hải quan của Quốc gia này. Nhiên liệu, dầu mỡ, phụ tùng, thiết bị thông thường và thực phẩm trên tầu bay của một Quốc gia ký kết khi đến lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác và vẫn ở trên tầu bay tới khi rời khỏi lãnh thổ của Quốc gia này được miễn thuế hải quan, thuế du lịch hoặc các thứ thuế và lệ phí tương tự của Quốc gia hoặc địa phương. Việc miễn trừ này không được áp dụng đối với bất kỳ khối lượng hoặc đồ vật nào được bốc dỡ, trừ khi phù hợp với các quy định về hải quan của Quốc gia này, mà Quốc gia này có thể yêu cầu rằng những khối lượng hoặc đồ vật đó phải đặt dưới sự giám sát của hải quan.

b) Phụ tùng và thiết bị nhập vào lãnh thổ của một Quốc gia ký kết nhằm lắp đặt hoặc sử dụng cho tầu bay của một Quốc gia ký kết khác tiến hành giao lưu hàng không quốc tế được miễn thuế hải quan, phụ thuộc vào việc tuân thủ các quy định của Quốc gia hữu quan mà Quốc gia này có thể quy rằng những đồ vật đó phải được đặt dưới sự giám sát và quản lý của hải quan.

Điều 25. Tầu bay lâm nguy

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết thực hiện các biện pháp mà họ thấy có thể thực hiện được để cứu giúp tầu bay bị lâm nguy trong lãnh thổ của mình và cho phép chủ sở hữu của tầu bay và nhà chức trách của Quốc gia mà tầu bay đăng ký tiến hành các biện pháp cứu giúp cần thiết mà hoàn cảnh đòi hỏi, phụ thuộc vào sự kiểm soát của nhà chức trách tại Quốc gia này. Mỗi Quốc gia ký kết, khi tiến hành tìm kiếm tầu bay mất tích, phải cộng tác với nhau thực hiện các biện pháp phối hợp có thể được khuyến nghị từng thời kỳ theo Công ước này.

Điều 26. Điều tra tai nạn

Trong trường hợp xảy ra đối với tầu bay của một Quốc gia ký kết trong lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác và gây ra chết người hoặc thương tích nghiêm trọng, hoặc phát hiện ra khuyết tật kỹ thuật nghiêm trọng hoặc thiếu phương tiện đảm bảo không lưu, thì Quốc gia nơi xảy ra tai nạn phải mở cuộc điều tra về những trường hợp tai nạn phù hợp với thủ tục được Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế khuyến nghị; trong chừng mực mà pháp luật của Quốc gia đó cho phép, Quốc gia nơi tầu bay đăng ký được tạo cơ hội để chỉ định các giám sát viên có mặt tại cuộc điều tra và Quốc gia tiến hành điều tra phải gửi báo cáo và thông báo mọi điều được phát hiện trong vụ việc cho Quốc gia đăng ký tầu bay.

Điều 27. Miễn trừ sai áp khi xảy ra tranh chấp về bằng sáng chế

a) Trong khi tầu bay của một Quốc gia ký kết tiến hành giao lưu Hàng không quốc tế, thì bất kỳ sự nhập cảnh có phép nào vào lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác hoặc việc quá cảnh được phép ngang qua lãnh thổ của Quốc gia đó có hoặc không hạ cánh không tạo ra cơ hội để sai áp hoặc cầm giữ tầu bay hoặc bất kỳ khiếu nại nào chống lại chủ sở hữu hoặc người khai thác tầu bay hoặc bất kỳ sự can thiệp nào khác do chính hoặc nhân danh Quốc gia này hoặc do bất kỳ người nào ở Quốc gia này viện cớ rằng cấu trúc, máy móc, các bộ phận, phụ tùng hoặc việc khai thác của tầu bay vi phạm các sở hữu quyền về bằng sáng chế, thiết kế hoặc kiểu mẫu đã được Quốc gia mà tầu bay bay vào cấp hoặc đăng ký hợp pháp và mọi người đều đồng ý rằng không một khoản tiền ký thác bảo đảm nào liên quan đến việc miễn trừ sai áp hoặc cầm giữ nói trên bị yêu cầu tại Quốc gia tầu bay bay vào trong bất kỳ trường hợp nào.

b) Những quy định của khoản (a) điều này cũng được áp dụng đối với việc tích trữ phụ tùng, thiết bị thay thế của tầu bay và cũng được áp dụng đối với quyền sử dụng và lắp đặt khi sửa chữa tầu bay của một Quốc gia ký kết trong lãnh thổ của bất kỳ Quốc gia ký kết nào khác, với điều kiện bất kỳ bộ phận hoặc thiết bị có bằng sáng chế nào được tích trữ không được bán lại hoặc nhượng lại trong nội địa của Quốc gia ký kết mà tầu bay bay vào hoặc được xuất khẩu từ Quốc gia này nhằm mục đích thương mại.

c) Các quyền lợi nói trên trong Điều này chỉ áp dụng đối với các Quốc gia thành viên của Công ước này khi (1) hoặc là thành viên của Công ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và bất kỳ sửa đổi nào của Công ước này (2) hoặc các Quốc gia này đã ban hành luật về sáng chế công nhận và bảo hộ thích đáng phát minh của công dân các Quốc gia thành viên khác của Công ước này.

Điều 28. Phương tiện bảo đảm không lưu và hệ thống tiêu chuẩn

Trong chừng mực xét thấy có thể thực hiện được, mỗi Quốc gia ký kết cam kết:

a) Cung cấp, trong lãnh thổ của mình, các cảng hàng không, dịch vụ vô tuyến, khí tượng và các phương tiện bảo đảm không lưu để tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu Hàng không quốc tế phù hợp với các tiêu chuẩn và cách thực hành được khuyến nghị hoặc thiết lập từng thời kỳ theo Công ước này;

b) Chấp nhận và đưa vào khai thác hệ thống tiêu chuẩn thích hợp về thông tin, mã số, ký hiệu, tín hiệu, đèn hiệu và các quy tắc, cách thực hành khai thác khác mà có thể được khuyến nghị và thiết lập từng thời kỳ theo Công ước này;

c) Hợp tác với nhau trong các biện pháp quốc tế để bảo đảm phát hành các bản đồ và họa đồ phù hợp với các tiêu chuẩn mà có thể được khuyến nghị hoặc thiết lập từng thời kỳ theo Công ước này.

Chương 5. CÁC ĐIỀU KIỆN TẦU BAY PHẢI THI HÀNH

Điều 29. Tài liệu mang theo tầu bay

Mọi tầu bay của một Quốc gia ký kết thực hiện giao lưu quốc tế phải mang theo những tài liệu sau phù hợp với các điều kiện quy định tại Công ước này:

a) Chứng chỉ đăng ký tầu bay;

b) Chứng chỉ đủ điều kiện bay;

c) Bằng thích hợp của mỗi thành viên tổ bay;

d) Nhật ký bay;

e) Nếu được trang bị thiết bị vô tuyến, thì giấy phép của thiết bị vô tuyến;

f) Nếu vận chuyển hành khách, thì danh sách hành khách và nơi lên, xuống tầu bay;

g) Nếu vận chuyển hàng hóa, thì bản kê khai hàng hóa.

Điều 30. Thiết bị vô tuyến của tầu bay

a) Tầu bay của mỗi Quốc gia ký kết khi hoạt động trong hoặc trên lãnh thổ của một Quốc gia ký kết khác chỉ có thể mang theo thiết bị vô tuyến nếu có giấy phép lắp đặt và khai thác thiết bị đó được nhà chức trách có thẩm quyền của Quốc gia nơi đăng ký tầu bay cấp. Việc, sử dụng thiết bị vô tuyến trong lãnh thổ của Quốc gia ký kết mà tầu bay bay qua phải phù hợp với quy định được Quốc gia thiết lập.

b) Chỉ có thành viên của tổ lái được nhà chức trách có thẩm quyền của Quốc gia nơi đăng ký tầu bay cấp giấp phép đặc biệt nhằm mục đích sử dụng mới được sử dụng thiết bị liên lạc vô tuyến.

Điều 31. Chứng chỉ đủ điều kiện bay

Mọi tầu bay thực hiện giao lưu quốc tế phải có chứng chỉ đủ điều kiện bay được Quốc gia nơi đăng ký tầu bay cấp hoặc làm cho có giá trị.

Điều 32. Bằng cấp của nhân viên

a) Phi công và các thành viên khác trong tổ lái của mỗi tầu bay thực hiện giao lưu quốc tế phải có chứng chỉ về khả năng và văn bằng của Quốc gia nơi đăng ký tầu bay cấp hoặc làm cho có giá trị.

b) Mỗi Quốc gia ký kết có quyền từ chối công nhận chứng chỉ về khả năng và văn bằng của bất kỳ công dân nào của mình do Quốc gia ký kết khác cấp để bay trên lãnh thổ của mình.

Điều 33. Công nhận chứng chỉ và văn bằng

Chứng chỉ đủ điều kiện bay, chứng chỉ về khả năng và văn bằng do Quốc gia ký kết nơi đăng ký tầu bay cấp hoặc làm cho có giá trị phải được các Quốc gia ký kết khác công nhận giá trị, với điều kiện là các yêu cầu mà các chứng chỉ và văn bằng đó được cấp hoặc được làm cho có giá trị phải ngang bằng hoặc trên tiêu chuẩn tối thiểu đã được thiết lập cho từng thời kỳ theo Công ước này.

Điều 34. Nhật ký bay

Mọi tầu bay thực hiện giao lưu quốc tế phải có nhật ký bay để ghi chép các chi tiết về tầu bay, tổ bay của nó và của mỗi hành trình dưới hình thức có thể được ấn định từng thời kỳ theo Công ước này.

Điều 35. Hạn chế về hàng hóa

a) Đạn dược hoặc khí cụ chiến tranh không thể được vận chuyển trong hoặc trên lãnh thổ của một Quốc gia bằng tầu bay thực hiện giao lưu quốc tế, trừ khi được phép của Quốc gia ấy. Mỗi Quốc gia phải quy định bằng pháp luật khái niệm về đạn dược hoặc khí cụ chiến tranh nhằm mục đích của Điều này và để thống nhất mỗi Quốc gia phải lưu tâm đến các khuyến nghị mà Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế đưa ra từng thời kỳ.

b) Vì lý do trật tự và an toàn công cộng, mỗi Quốc gia ký kết giành quyền quy định hoặc cấm việc vận chuyển trong hoặc trên lãnh thổ của mình ngoài các đồ vật nói tại điểm (a): với các điều kiện là không có sự phân biệt trong lĩnh vực này giữa tầu bay của mình thực hiện giao lưu quốc tế và tầu bay của các Quốc gia khác cũng thực hiện việc đó và hơn nữa, miễn là việc hạn chế không được quy định để gây cản trở việc vận chuyển và sử dụng các thiết bị cần thiết của tầu bay nhằm khai thác tầu bay hoặc vận hành tầu bay hoặc vì an toàn của nhân viên hoặc hành khách.

Điều 36. Thiết bị

Mỗi Quốc gia ký kết có thể cấm hoặc chế định việc sử dụng thiết bị chụp ảnh trong tầu bay khi bay trên lãnh thổ của mình.

Chương 6. CÁC TIÊU CHUẢN VÀ KHUYẾN NGHỊ THỰC HÀNH QUỐC TẾ

Điều 37. Ban hành các tiêu chuẩn và thủ tục quốc tế

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết công tác để đảm bảo mức độ thực hiện cao nhất trong việc thống nhất các quy tắc, tiêu chuẩn, thủ tục và tổ chức liên quan tới tầu bay, nhân viên, đường hàng không và dịch vụ trợ giúp trong tất cả các lĩnh vực mà sự thống nhất đó là thuận tiện và cải thiện không lưu.

Nhằm mục đích này, Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, khi thấy cần thiết, ban hành và sửa đổi từng thời kỳ các tiêu chuẩn, khuyến nghị thực hành và thủ tục quốc tế đối với:

a) Hệ thống thông tin và trang thiết bị dẫn đường, kể cả dấu hiệu mặt đất;

b) Đặc tính của Cảng hàng không và bãi hạ cánh;

c) Quy tắc không lưu và thực hành kiểm soát không lưu;

d) Bằng cấp của nhân viên khai thác kỹ thuật và bảo dưỡng;

e) Tiêu chuẩn đủ điều kiện bay của tầu bay;

f) Đăng ký và dấu hiệu nhận biết của tầu bay;

g) Thu lượm và trao đổi tin tức khí tượng;

h) Sổ sách, tài liệu;

i) Bản đồ và hoạ đồ hàng không;

j) Thủ tục hải quan và xuất, nhập cảnh;

k) Tầu bay lâm nguy và điều tra tai nạn;

và những vấn đề khác tương tự liên quan tới an toàn, điều hòa và hiệu quả của không lưu khi thấy thích hợp mà có thể ban hành.

Điều 38. Khác biệt với các tiêu chuẩn và thủ tục quốc tế

Bất kỳ các Quốc gia nào mà thấy không thể tuân thủ với bất kỳ tiêu chuẩn thủ tục quốc tế nào trong tất cả các phương diện hoặc không thể đưa ra các quy định của mình hoặc thực hành hoàn toàn theo bất kỳ tiêu chuẩn hoặc thủ tục quốc tế nào sau khi đã sửa đổi, hoặc Quốc gia đó thấy cần thiết ban hành những quy định hoặc cách thực hành khác về bất kỳ một lĩnh vực cụ thể nào đối với các quy tắc hoặc thủ tục do tiêu chuẩn Quốc tế thiết lập nên phải thông báo ngay lập tức với Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế biết những khác biệt giữa cách thực hành và của Quốc gia mình và cách thực hành do tiêu chuẩn quốc tế tạo ra. Trong trường hợp sửa đổi các tiêu chuẩn quốc tế, bất kỳ Quốc gia nào mà không sửa đổi thích hợp các quy tắc hoặc cách thực hành của Quốc gia mình phải thông báo cho Hội đồng trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày ban hành việc sửa đổi tiêu chuẩn Quốc tế, hoặc chỉ ra biện pháp mà Quốc gia đó đề nghị áp dụng. Trong bất kỳ trường hợp nào như vậy, Hội đồng phải ngay lập tức thông báo cho tất cả các Quốc gia khác về sự khác biệt mà tồn tại giữa một hoặc nhiều điểm của một tiêu chuẩn quốc tế và cách thực hành tương ứng của các Quốc gia đó.

Điều 39. Xác nhận vào chứng chỉ và văn bằng

a) Căn cứ vào tiêu chuẩn quốc tế về tính đủ điều kiện bay hoặc tính năng của tầu bay, bất kỳ một tầu bay nào hoặc bộ phận của nó mà không đáp ứng được các tiêu chuẩn đó tại thời điểm làm chứng chỉ thì phải ghi chú vào chứng chỉ đủ điều kiện bay hoặc đính vào đó kèm theo một bản liệt kê các chi tiết mà không đáp ứng được yêu cầu này.

b) Bất kỳ người nào có bằng cấp mà không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế liên quan tới hạng, loại của bằng hoặc chứng chỉ thì bằng của người này phải được ghi chú hoặc được gắn kèm một bản liệt kê những chi tiết mà người này không đáp ứng được những điều kiện đó.

Điều 40. Giá trị của chứng chỉ và bằng đã được ghi chú

Không tầu bay hoặc nhân viên nào có chứng chỉ hoặc bằng đã được ghi chú như vậy được tham gia giao lưu quốc tế, trừ khi có phép của Quốc gia hoặc những Quốc gia mà tầu bay bay vào. Việc đăng ký hoặc sử dụng bất kỳ tầu bay nào như vậy hoặc bất kỳ bộ phận tầu bay nào được cấp chứng chỉ trong bất kỳ Quốc gia nào khác Quốc gia nhập tầu bay hoặc bộ phận của tầu bay đó.

Điều 41. Công nhận tiêu chuẩn đủ điều kiện bay hiện hành

Các quy định của Công ước này không áp dụng đối với tầu bay và các thiết bị tầu bay thuộc các kiểu và mẫu đầu tiên của chúng được đệ trình lên nhà chức trách Quốc gia thích hợp để cấp chứng chỉ trước ba năm sau ngày ban hành một tiêu chuẩn quốc tế về tính đủ điều kiện bay đối với thiết bị đó.

Điều 42. Công nhận các tiêu chuẩn hiện hành về khả năng của nhân viên

Các quy định của chương này không áp dụng đối với nhân viên mà bằng cấp của họ bắt đầu đã được cấp trước ngày một năm sau khi ban hành đầu tiên một tiêu chuẩn quốc tế về khả năng đối với nhân viên đó; nhưng trong bất kỳ trường hợp nào các quy định này cũng áp dụng đối với tất cả nhân viên có bằng còn hiệu lực năm năm sau ngày ban hành tiêu chuẩn đó.

Phần 2. TỔ CHỨC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG QUỐC TẾ[sửa | sửa mã nguồn]

Chương 7. TỔ CHỨC

Điều 43. Tên gọi và thành phần

Công ước này lập ra một tổ chức có tên gọi là Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế. Tổ chức này gồm có một Đại hội hội đồng, một Hội đồng và các cơ quan khác cần thiết sau này.

Điều 44. Mục tiêu

Tổ chức này có mục đích và mục tiêu là phát triển các nguyên tắc và kỹ thuật cho giao lưu Hàng không quốc tế và thúc đẩy việc vạch kế hoạch và sự phát triển vận tải Hàng không quốc tế để:

a) Bảo đảm an toàn và phát triển có trật tự ngành Hàng không dân dụng quốc tế trên toàn cầu;

b) Khuyến khích các kỹ thuật thiết kế và khai thác tầu bay nhằm các mục đích hoà bình;

c) Khuyến khích phát triển các đường hàng không, các cảng hàng không và các phương tiện bảo đảm không lưu cho ngành Hàng không dân dụng quốc tế;

d) Đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên thế giới về vận tải hàng không an toàn, điều hoà, hiệu quả và kinh tế;

e) Tránh lãng phí tiền của gây ra bởi sự cạnh tranh vô lý;

f) Bảo đảm tôn trọng hoàn toàn các quyền của các Quốc gia ký kết và bảo đảm cho mọi Quốc gia ký kết một cơ hội đồng đều trong việc khai thác các hãng Hàng không quốc tế;

g) Tránh sự phân biệt giữa các Quốc gia ký kết;

h) Thúc đẩy an toàn bay trong giao lưu Hàng không quốc tế;

i) Thúc đẩy toàn bộ sự phát triển tất cả các lĩnh vực Hàng không dân dụng quốc tế;

Điều 45.[‡] Trụ sở thường trực

Tổ chức phải có trụ sở thường trực ở nơi được ấn định vào phiên họp cuối cùng của quyền Đại hội đồng của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế lâm thời được thành lập do tạm ước về Hàng không dân dụng quốc tế ký tại Chicago ngày 7 tháng 12 năm 1944. Trụ sở này có thể tạm thời chuyển tới nơi khác do quyết định của Hội đồng và chuyển tạm thời tới nơi khác hơn do quyết định của Đại hội đồng và Quyết định này phải có đủ số phiếu do Đại hội đồng ấn định. Số phiếu được ấn định không dưới 3/5 tổng số các Quốc gia ký kết.

Điều 46. Phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng

Phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng do Quyền Hội đồng của tổ chức lâm thời nói trên triệu tập ngay sau khi Công ước này có hiệu lực và Quyền Hội đồng sẽ quyết định thời gian và địa điểm của phiên họp này.

Điều 47. Năng lực pháp lý

Trong lãnh thổ của mỗi Quốc gia ký kết, Tổ chức được hưởng năng lực pháp lý cần thiết để thực hiện các chức năng của mình. Tư cách pháp nhân đầy đủ được cấp cho tổ chức ở bất cứ nơi nào thích hợp với Hiến pháp và pháp luật của Quốc gia hữu quan.

Chương 8. ĐẠI HỘI ĐỒNG

Điều 48. Các phiên họp của Đại hội đồng và bỏ phiếu

a) Ít nhất 3 năm Đại hội đồng họp một lần và được Hội đồng triệu tập vào thời gian và địa điểm thích hợp. Phiên họp bất thường của Đại hội đồng được tổ chức vào bất kỳ lúc nào do Hội đồng triệu tập hoặc do đề nghị của 1/5 số Quốc gia ký kết gửi tới Tổng thư ký.

b) Tất cả của Quốc gia ký kết có quyền bình đẳng cử đại diện trong các phiên họp của Đại hội đồng và mỗi Quốc gia ký kết được quyền bỏ một phiếu. Các đoàn đại biểu của các Quốc gia ký kết có thể có các cố vấn kỹ thuật cùng tham gia dự phiên họp, nhưng không có quyền bỏ phiếu.

c) Số đại biểu quy định đối với các phiên họp phải là đa số các Quốc gia ký kết. Trừ khi Công ước này quy định khác, quyết định của Đại hội đồng được chấp nhận theo đa số phiếu.

Điều 49. Quyền hạn và trách nhiệm của Đại hội đồng

Đại hội đồng có các quyền sau:

a) Bầu một vị Chủ tịch và các viên chức khác tại mỗi phiên họp;

b) Bầu các Quốc gia ký kết để đại diện tại Hội đồng phù hợp với các quy định của Chương IX;

c) Kiểm tra và xem xét các báo cáo của Hội đồng và quyết định mọi vấn đề do Hội đồng trình lên;

d) Thiết lập các quy tắc làm việc của mình và thiết lập các Ủy ban giúp việc mà Đại hội đồng xét thấy cần thiết hoặc mong muốn.

e) Biểu quyết ngân sách hàng năm và ấn định chế độ tài chính của tổ chức theo các quy định của Chương XII;

f) Xét duyệt kinh phí và thông qua quyết toán chi của Tổ chức;

g) Giao bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của mình cho Hội đồng, các Ủy ban giúp việc hoặc bất kỳ tổ chức nào khác để xem xét, theo sự lựa chọn của mình;

h) Ủy nhiệm cho Hội đồng những quyền hành và quyền lực cần thiết, hoặc mong muốn để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức và bãi bỏ hoặc sửa đổi các sự ủy quyền vào bất cứ lúc nào;

i) Thi hành các quyết định thích hợp của Chương XIII;

j) Xem xét các đề nghị về việc sửa đổi hay tu chỉnh các quy định của Công ước này nếu Đại hội đồng chấp thuận những đề nghị ấy thì khuyến nghị các Quốc gia ký kết theo các quy định của Chương XXI;

k) Giải quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của tổ chức mà Hội đồng không được giao phó cụ thể.

Chương 9. HỘI ĐỒNG

Điều 50. Thành phần và bầu hội đồng

Hội đồng là cơ quan thường trực chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng. Hội đồng gồm có ba mươi Quốc gia[§] ký ước do Đại hội đồng bầu ra. Hội đồng được bầu tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng và cứ 3 năm các thành viên của Hội đồng được bầu lại một kỳ. Các thành viên của Hội đồng được giữ chức vụ cho tới kỳ bầu cử kế tiếp.

a) Khi bầu các thành viên của Hội đồng, Đại hội đồng giành quyền đại diện đầy đủ cho:

1. Các Quốc gia có tầm quan trọng chính yếu trong vận tải hàng không.

2. Các Quốc gia không được kể trên mà lại đóng góp nhiều nhất trong việc cung cấp các phương tiện bảo đảm cho giao lưu Hàng không quốc tế; và

3. Các Quốc gia không được kể trên nhưng việc chỉ định Quốc gia này bảo đảm quyền đại diện tại Hội đồng của tất cả các khu vực địa lý rộng lớn trên thế giới. Bất kỳ chỗ trống nào ở Hội đồng phải được Đại hội đồng bổ sung ngay; bất kỳ Quốc gia được bầu như vậy nào Hội đồng giữ vị trí đến hết nhiệm kỳ.

c) Không đại diện của một Quốc gia ký kết nào tại hội đồng được quan hệ một cách tích cực tới việc hoạt động dịch vụ Hàng không quốc tế hoặc được hưởng lợi tức tài chính trong dịch vụ như vậy.

Điều 51. Chủ tịch Hội đồng

Hội đồng bầu ra vị Chủ tịch của mình với nhiệm kỳ 3 năm. Chủ tịch có thể tái cử. Vị này không được phép bỏ phiếu. Hội đồng bầu ra một hoặc phiếu phó Chủ tịch trong số các thành viên của Hội đồng và các Phó chủ tịch vẫn giữ nguyên quyền bỏ phiếu khi thay mặt Chủ tịch. Vị Chủ tịch không nhất thiết phải được lựa chọn trong số các vị đại diện của các thành viên của Hội đồng, nhưng nếu một vị đắc cử thì vị trí của vị đại diện này được coi như bỏ trống và cần phải được Quốc gia của vị này bổ khuyết.

Chủ tịch có những nhiệm vụ sau:

a) Triệu tập phiên họp của Hội đồng, Tiểu ban không tải và Ủy ban không lưu;

b) Hành động như đại diện của Hội đồng;

c) Nhân danh Hội đồng thi hành các chức năng do Hội đồng giao phó.

Điều 52. Biểu quyết tại Hội đồng

Các quyết định của Hội đồng phải được đa số thành viên chấp thuận. Hội đồng có thể ủy quyền cho tiểu ban gồm các thành viên Hội đồng về bất cứ vấn đề cụ thể nào. Các quyết định của mọi tiểu ban thuộc Hội đồng có thể bị bất kỳ Quốc gia ký kết nào kháng cáo lên Hội đồng.

Điều 53. Tham dự không biểu quyết

Bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể tham dự mà không được biểu quyết khi Hội đồng và các tiểu ban và Ủy ban của Hội đồng xem xét bất kỳ vấn đề nào đặc biệt ảnh hưởng đến quyền lợi của Quốc gia đó. Không một thành viên nào của hội đồng được biểu quyết khi Hội đồng xem xét tranh chấp mà thành viên đó là một bên.

Điều 54. Chức năng thừa hành của Hội đồng

Hội đồng phải:

a) Đệ trình báo cáo hàng năm lên Đại hội đồng;

b) Thi hành các chỉ thị của Đại hội đồng và hoàn thành các nhiệm vụ mà Công ước này quy định cho Hội đồng;

c) Ấn định tổ chức và quy tắc làm việc của Hội đồng;

d) Chỉ định và phân định các nhiệm vụ của tiểu ban không tải và các thành viên của tiểu ban này được chọn trong số các vị đại diện của các thành viên của Hội đồng và tiểu ban này phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng;

e) Thành lập Ủy ban không theo các quy định của Chương X;

f) Quản lý tài chính và tổ chức phù hợp với các quy định của Chương XII và XV;

g) Quy định tiền lương của Chủ tịch Hội đồng;

h) Chỉ định một viên chức chấp hành chính với chức danh là Tổng thư ký và quy định việc bổ nhiệm các nhân viên khác khi cần thiết phù hợp với các quy định của Chương XI;

i) Đòi hỏi, thu thập, kiểm tra, công báo thông tin liên quan đến sự phát triển của giao lưu hàng không và khai thác dịch vụ Hàng không quốc tế, kể thông tin về chi phí khai thác và các chi tiết về các khoản trợ cấp cho các hãng hàng không lấy từ công quỹ;

j) Thông báo tới các Quốc gia ký kết biết mọi phạm vi Công ước này cũng như việc thực hiện sai các khuyến nghị hoặc quyết định của Hội đồng;

k) Báo cáo lên Đại hội đồng mọi vi phạm Công ước này khi một Quốc gia ký kết không có hành động thích đáng trong một thời gian hợp lý sau khi đã được thông báo về sự vi phạm;

l) Ban hành các tiêu chuẩn và các khuyến nghị thực hành quốc tế phù hợp với các quy định của Chương VI của Công ước này; để thuận lợi, đưa các tiêu chuẩn và khuyến nghị này vào phụ lục của Công ước này; và thông báo cho tất cả các Quốc gia ký kết về biện pháp đã áp dụng;

m) Xem xét các khuyến nghị của Ủy ban không lưu về việc sửa đổi các phụ lục và hành động phù hợp với các quy định của chương XX;

n) Xem xét mọi vấn đề liên quan đến Công ước mà bất kỳ Quốc gia ký kết nào trình lên;

Điều 55. Chức năng được phép của Hội đồng.

a) Thiết lập các Ủy ban không tải phụ thuộc trên vùng hoặc trên cơ sở khác ở nơi thích hợp và khi kinh nghiệm cho thấy là cần thiết và phân định cho các nhóm Quốc gia và các hãng hàng không mà Hội đồng có thể tạo điều kiện dễ dàng để thực hiện các mục tiêu của Công ước này;

b) Ủy quyền cho Ủy ban không lưu các nhiệm vụ ngoài nhiệm vụ được lập nên trong Công ước này và hủy bỏ hoặc sửa đổi tự uỷ quyền đó bất kỳ lúc nào;

c) Hướng các cuộc nghiên cứu vào mọi lĩnh vực của không tải và không lưu mà có tầm quan trọng quốc tế và thông báo cho các Quốc gia ký kết kết quả nghiên cứu của hội đồng và tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa các Quốc gia ký kết về các vấn đề không tải và không lưu;

d) Nghiên cứu mọi vấn đề ảnh hưởng tới tổ chức và khai thác nền không tải quốc tế, kể cả quyền sở hữu quốc tế và việc khai thác các dịch vụ Hàng không quốc tế trên các đường bay và đệ trình lên Đại hội đồng các kế hoạch liên quan đến các vấn đề nói trên;

e) Điều tra theo yêu cầu của bất kỳ Quốc gia ký kết nào mọi tình huống có thể đưa đến các trở ngại đối với sự phát triển giao lưu Hàng không quốc tế và sau khi điều tra xong, làm các báo cáo khi thấy cần.

Chương 10. ỦY BAN KHÔNG LƯU

Điều 56. Việc chỉ định Ủy ban không lưu

Ủy ban không lưu gồm 15 thành viên do Hội đồng chỉ định trong số những người được các Quốc gia ký kết đề nghị. Những người này phải có khả năng và kinh nghiệm phù hợp về khoa học và thực hành hàng không, được Hội đồng đề nghị tất cả các Quốc gia ký kết đề cử. Chủ tịch Ủy ban không lưu do Hội đồng chỉ định.

Điều 57. Nhiệm vụ của Ủy ban

Ủy ban không lưu phải:

a) Xem xét và kiến nghị với Hội đồng về việc ban hành, sửa đổi các phụ lục của Công ước này;

b) Thành lập các tiểu ban kỹ thuật có thể bao gồm đại diện của bất kỳ Quốc gia ký kết nào, nếu mong muốn;

c) Góp ý với Hội đồng về việc thu thập và thông báo cho các Quốc gia ký kết tất cả các thông tin mà xét thấy cần thiết và có ích cho sự phát triển không lưu.

Chương 11. NHÂN VIÊN

Điều 58. Bổ nhiệm nhân viên

Phụ thuộc vào các quy tắc do Đại hội đồng lập nên và các quy định của Công ước, Hội đồng phải quy định cách thức bổ nhiệm, bãi nhiệm, huấn luyện, tiền lương, phụ cấp cùng các điều kiện phục vụ của Tổng thư ký và các nhân viên khác của tổ chức và có thể thuê mướn công dân của bất kỳ Quốc gia ký kết nào.

Điều 59. Tính cách quốc tế của nhân viên

Chủ tịch Hội đồng, Tổng thư ký và các nhân viên khác không được thỉnh cầu hoặc nhận chỉ thị của bất cứ thế lực nào ngoài tổ chức khi thi hành nhiệm vụ của mình. Mỗi Quốc gia ký kết cam kết tôn trọng đầy đủ các tính cách quốc tế trong các nhiệm vụ của nhân viên mà không được tìm cách gây ảnh hưởng đến bất kỳ công dân nào của mình khi họ đang thi hành nhiệm vụ.

Điều 60. Miễn trừ và các đặc quyền của nhân viên

Trong chừng mực mà cơ chế pháp lý cho phép, mỗi Quốc gia ký kết cam kết dành cho Chủ tịch hội đồng, Tổng thư ký và các nhân viên khác của Tổ chức các miễn trừ và đặc quyền như dành cho các nhân viên tương đương của các tổ chức quốc tế công cộng khác. Nếu có một điều ước quốc tế chung về sự miễn trừ và đặc quyền của nhân viên dân dụng quốc tế được đề cập tới, thì các miễn trừ và đặc quyền cho Chủ tịch, Tổng thư ký và các nhân viên khác của Tổ chức phải là các miễn trừ và đặc quyền theo Điều ước quốc tế chung này.

Chương 12. TÀI CHÍNH

Điều 61. Ngân sách và phân chia kinh phí

Hội đồng phải trình lên Đại hội đồng các ngân sách hàng năm, Bản quyết toán hàng năm và bản cân đối thu chi. Đại hội đồng đưa ra biểu quyết về các ngân sách với bất kỳ sự thay đổi nào khi thấy phù hợp, trừ khoản đóng góp theo Chương XV, buộc các Quốc gia tán thành và Đại hội đồng phân bổ chi phí của Tổ chức cho các Quốc gia ký kết trên cơ sở xác định từng thời kỳ.

Điều 62. Đình chỉ quyền biểu quyết

Đại hội đồng có quyền đình chỉ quyền biểu quyết tại Đại hội đồng và tại Hội đồng đối với bất kỳ Quốc gia ký kết nào không làm tròn nghĩa vụ tài chính của mình đối với Tổ chức trên cơ sở xác định từng thời kỳ.

Điều 63. Chi phí cho phái đoàn và các đại diện khác

Mỗi Quốc gia kết ước phải chịu chi phí cho phái đoàn của mình tới Đại hội đồng và chi phí thù lao, đi lại và các chi phí khác của bất cứ người nào mà Quốc gia đó chỉ định phục vụ tại Hội đồng và chi phí của những người được chỉ định hoặc đại diện trong các Ủy ban hoặc tiểu ban phụ thuộc của tổ chức.

Chương 13. CÁC THOẢ THUẬN QUỐC TẾ KHÁC

Điều 64. Các thỏa thuận về an ninh

Đối với các vấn đề hàng không thuộc thẩm quyền của mình có ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh thế giới, thông qua việc biểu quyết của Đại hội đồng có thể ký kết các thoả thuận thích hợp với bất kỳ tổ chức chung nào do các Quốc gia trên thế giới thiết lập để duy trì hòa bình.

Điều 65. Thỏa thuận với các tổ chức quốc tế khác

Nhân danh Tổ chức Hội đồng có thể ký kết các điều ước với các tổ chức quốc tế khác để duy trì các dịch vụ chung và để thỏa thuận chung về nhân sự. Với sự chấp thuận của Đại hội đồng, Hội đồng có thể ký kết các thoả thuận khác tạo thuận lợi cho công việc của tổ chức.

Điều 66. Các chức năng liên quan tới các điều kiện khác

a) Tổ chức cũng phải thực hiện các chức năng quy định trong Hiệp định quá cảnh dịch vụ hàng không quốc tế và Hiệp định vận tải Hàng không quốc tế được lập tại Chicago ngày 7.12.1944, phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Hiệp định này.

b) Các thành viên của Đại hội đồng và Hội đồng không chấp nhận Hiệp định quá cảnh dịch vụ Hàng không quốc tế và Hiệp định vận tải Hàng không quốc tế được lập tại Chicago ngày 7.12.1944 không có quyền biểu quyết bất kỳ vấn đề nào đã nói tại Đại hội đồng và hội đồng theo các quy định của Hiệp định tương ứng.

Phần 3. VẬN TẢI HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ[sửa | sửa mã nguồn]

Chương 14. THÔNG TIN VÀ BÁO CÁO

Điều 67. Trình báo cáo lên Hội đồng

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết rằng các hãng hàng không quốc tế của mình phải trình lên Hội đồng các báo cáo về kinh doanh, bản thống kê chi phí và công bố tài chính ghi rõ trong các số liệu khác về tất cả số thu và nguồn gốc của nó.

Chương 15. CẢNG HÀNG KHÔNG VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN BẢO ĐẢM KHÔNG LƯU KHÁC

Điều 68. Chỉ định các đường hàng không và cảng hàng không

Mỗi Quốc gia ký kết có thể chỉ định trong lãnh thổ của mình đường hàng không mà các chuyến bay quốc tế phải theo và các cảng hàng không có thể sử dụng trong giao lưu quốc tế, phụ thuộc vào các quy định của Công ước này.

Điều 69. Cải thiện các phương tiện bảo đảm không lưu

Nếu Hội đồng cho rằng các cảng hàng không hoặc các phương tiện bảo đảm không lưu khác của Quốc gia ký kết - kể cả các dịch vụ vô tuyến và khí tượng - là không đầy đủ để bảo đảm an toàn, điều hòa, hiệu quả và khai thác kinh tế cho các chuyến bay quốc tế, đã có hoặc đang dự liệu, thì Hội đồng phải thảo luận trực tiếp với Quốc gia hữu quan và các Quốc gia liên hệ khác để tìm ra giải pháp cứu vãn tình thế và Hội đồng có thể đưa ra các khuyến nghị nhằm mục đích đó. Không Quốc gia ký kết nào có tội vi phạm Công ước này nếu không thực hiện các khuyến nghị này.

Điều 70. Tài trợ các phương tiện bảo đảm không lưu

Mỗi Quốc gia ký kết có thể ký kết một thỏa thuận với Hội đồng nhằm thi hành các khuyến nghị, trong những trường hợp phát sinh theo các quy định của Điều 69. Quốc gia này có thể quyết định chịu tất cả các chi phí trong bất kỳ thoả thuận nào như vậy. Nếu Quốc gia đó không làm được như vậy, thì theo đề nghị của Quốc gia này Hội đồng có thể đồng ý đài thọ toàn bộ hoặc một phần các chi phí đó.

Điều 71. Hội đồng cung cấp và bảo dưỡng các phương tiện bảo đảm

Nếu một Quốc gia ký kết yêu cầu, Hội đồng có thể cung cấp nhân lực, cung cấp, duy trì và quản lý bất kỳ hoặc toàn bộ các cảng hàng không và phương tiện bảo đảm không lưu bao gồm cả dịch vụ vô tuyến và khí tượng được yêu cầu trong lãnh thổ của Quốc gia này để bảo đảm an toàn, điều hòa, hiệu quả và khai thác kinh tế đối với các chuyến bay quốc tế của Quốc gia ký kết khác. Hội đồng có thể định ra lệ phí công bằng và hợp lý cho việc sử dụng các phương tiện bảo đảm được cung cấp đó.

Điều 72. Chiếm hữu và sử dụng đất đai

Khi một khu đất cần thiết cho các phương tiện bảo đảm không lưu do hội đồng tài trợ một phần hoặc toàn bộ theo yêu cầu của một Quốc gia ký kết thì Quốc gia này phải, hoặc tự cung cấp đất, giữ lại quyền sở hữu nếu muốn, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng sử dụng đất trong các điều kiện công bằng và hợp lý phù hợp với pháp luật của Quốc gia này.

Điều 73. Kinh phí và phân phối ngân quỹ

Trong phạm vi ngân quỹ mà Đại hội đồng có thể dành cho Hội đồng theo chương XII, Hội đồng có thể sử dụng kinh phí thông thường nhằm thực hiện các mục đích của Chương này lấy từ quỹ chung của Tổ chức. Hội đồng ấn định sự đóng góp vào quỹ cần thiết nhằm các mục đích của chương này, tuỳ theo những tỷ lệ được thỏa thuận trước trong một thời gian hợp lý, cho các Quốc gia ký kết ưng thuận mà các hãng hàng không của Quốc gia ấy sử dụng các phương tiện bảo đảm không lưu. Hội đồng cũng có thể ấn định mức đóng góp cho các Quốc gia mà tán thành bất kỳ quỹ luân chuyển nào được yêu cầu.

Điều 74. Hỗ trợ kỹ thuật và sử dụng lợi tức

Khi Hội đồng theo yêu cầu của một Quốc gia ký kết ứng trước các ngân quỹ hoặc dung cấp một phần, hoặc toàn bộ các hãng hàng không hoặc các phương tiện bảo đảm khác, thì thỏa thuận có thể định liệu sự trợ giúp kỹ thuật dưới sự giám sát và khai thác các cảng hàng không đó và các phương tiện bảo đảm khác, với sự đồng ý của Quốc gia này, và thỏa thuận cũng có thể định liệu việc thanh toán các chi phí khai thác các cảng hàng không và các phương tiện khác và thanh toán tiền lãi, lệ phí trả dần trích từ lợi tức thu được do việc khai thác các cảng hàng không và các phương tiện bảo đảm đã nêu.

Điều 75. Thu hồi các phương tiện bảo đảm do Hội đồng cung cấp

Bất kỳ lúc nào, một Quốc gia ký kết cũng có thể huỷ bỏ mọi nghĩa vụ ký kết theo Điều 70 và có thể thu hồi các cảng hàng không và các phương tiện bảo đảm khác do Hội đồng lập nên trong lãnh thổ của Quốc gia này theo các quy định của Điều 71 và 72, bằng cách trả cho Hội đồng một khoản tiền mà Hội đồng cho là hợp lý trong các trường hợp này. Nếu Quốc gia ký kết cho rằng khoản tiền do Hội đồng ấn định là không hợp lý thì có thể kháng cáo các quyết định của Hội đồng lên Đại hội đồng và Đại hội đồng có thể giữ nguyên hoặc sửa đổi quyết định của Hội đồng.

Điều 76. Hoàn lại quỹ

Trong trường hợp các Quốc gia ứng trước về tài chính lúc ban đầu theo Điều 73, thì các quỹ do Hội đồng thu được thông qua việc hoàn lại theo Điều 75 và do nhận tiền lãi và trả dần theo Điều 74 phải được hoàn lại cho các Quốc gia đã đóng góp lúc ban đầu theo tỷ lệ với sự đóng góp như quy định của Hội đồng.

Chương 16. CÁC TỔ CHỨC KHAI THÁC CHUNG VÀ CÁC DỊCH VỤ CỘNG ĐỒNG

Điều 77. Các tổ chức khai thác chung được phép

Không điều khoản nào của Công ước này cản trở hai hoặc nhiều Quốc gia ký kết thành lập các tổ chức khai thác vận tải hàng không chung hoặc các cơ quan khai thác quốc tế, hoặc cản trở các Quốc gia ký kết này thiết lập các dịch vụ hàng không trên bất kỳ đường bay nào hoặc trong bất kỳ vùng nào, nhưng các tổ chức hoặc các cơ quan và các dịch vụ cộng đồng như vậy phải lệ thuộc vào tất cả các quy định của Công ước này, kể cả các quy định về đăng ký các thỏa thuận với Hội đồng. Hội đồng phải quy định cách thức áp dụng các quy định của Công ước này liên quan đến quốc tịch tầu bay đối với các tầu bay do các cơ quan khai thác quốc tế khai thác.

Điều 78. Vai trò của Hội đồng

Hội đồng có thể kiến nghị các Quốc gia ký kết hữu quan thành lập các tổ chức chung để khai thác các dịch vụ hàng không trên bất kỳ đường bay nào hoặc bất kỳ vùng nào.

Điều 79. Tham gia các tổ chức khai thác

Một Quốc gia có thể tham gia các tổ chức khai thác chung hoặc các thỏa thuận cộng đồng, hoặc qua Chính phủ của mình hoặc qua một hoặc nhiều hãng hàng không được Chính phủ của Quốc gia này chỉ định. Các Hãng này có thể thuộc sở hữu nhà nước từng phần hoặc toàn bộ thuộc sở hữu tư nhân, tuỳ theo suy xét của Quốc gia hữu quan.

Phần 4. NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG[sửa | sửa mã nguồn]

Chương 17. NHỮNG ĐIỀU ƯỚC VÀ THỎA THUẬN HÀNG KHÔNG KHÁC

Điều 80. Công ước Paris và Công ước Habana

Ngay khi Công ước này có hiệu lực, mỗi Quốc gia ký kết cam kết thông báo bãi bỏ Công ước về quy tắc không lưu ký tại Paris ngày 13 tháng 10 năm 1919 hoặc Công ước về hàng không thương mại ký tại Habana ngày 20 tháng 2 năm 1928, nếu Quốc gia này là thành viên của một hoặc hai Công ước đó. Đối với các Quốc gia ký kết, Công ước này thay thế hai Công ước Paris và Habana kể trên.

Điều 81. Đăng ký các thỏa thuận hiện hành

Tất cả các thỏa thuận hàng không hiện hành vào lúc Công ước này có hiệu lực giữa một Quốc gia ký kết và bất kỳ Quốc gia nào khác hoặc giữa một hãng hàng không của một Quốc gia ký kết và bất kỳ Quốc gia nào khác hoặc một hãng hàng không của bất kỳ Quốc gia nào khác phải được đăng ký ngay với Hội đồng.

Điều 82. Bãi bỏ các thỏa thuận không phù hợp

Các Quốc gia ký kết thừa nhận Công ước này khi bãi bỏ tất cả các nghĩa vụ và thỏa thuận vào giữa các Quốc gia đó mà không phù hợp với các điều khoản của Công ước này và cam kết rằng không tạo nên bất kỳ nghĩa vụ và thỏa thuận nào như vậy. Trước khi trở thành thành viên của Tổ chức, một Quốc gia ký kết đã cam kết với một Quốc gia không ký kết hoặc với một công dân của một Quốc gia ký kết, hoặc của một Quốc gia không ký kết bất kỳ nghĩa vụ nào không phù hợp với các điều khoản của Công ước này thì phải lập tức có các biện pháp để tìm ra sự giải thoát khỏi các nghĩa vụ này. Nếu hãng hàng không của Quốc gia ký kết đã cam kết các nghĩa vụ không phù hợp như vậy, thì Quốc gia mà hãng này mang quốc tịch phải dùng hết khả năng để bảo đảm chấm dứt ngay các nghĩa vụ đó và trong mọi trường hợp phải làm thế nào để chấm dứt ngay khi có thể hành động như vậy một cách hợp pháp sau khi Công ước này có hiệu lực.

Điều 83.[**] Đăng ký các thoả thuận mới

Phụ thuộc vào các quy định của Điều trên, bất kỳ Quốc gia ký kết nào cũng có thể lập nên các thoả thuận phù hợp với các quy định của Công ước này. Bất kỳ thoả thuận nào như vậy phải được đăng ký ngay với hội đồng để Hội đồng công bố trong thời gian sớm nhất

Chương 18. TRANH CHẤP VÀ BẤT TUÂN

Điều 84. Giải quyết tranh chấp

Nếu có sự bất đồng giữa hai hoặc nhiều Quốc gia ký kết về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước này và các Phụ lục của Công ước mà không thể giải quyết băng thương lượng, thì Hội đồng phải quyết định theo thỉnh cầu của bất kỳ Quốc gia hữu quan nào. Không một thành viên nào của Hội đồng mà là một bên tranh chấp được biểu quyết khi Hội đồng xem xét cuộc tranh chấp. Phụ thuộc vào Điều 85 mọi Quốc gia ký kết có thể kháng cáo quyết định của hội đồng lên Tòa án trọng tài đặc trách được thành lập theo sự thỏa thuận với các bên khác trong cuộc tranh chấp hoặc kháng cáo lên Toà án công lý quốc tế thường trực. Kháng cáo như vậy phải được thông báo cho Hội đồng trong vòng sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được bản thông báo quyết định của Hội đồng.

Điều 85. Thủ tục trọng tài

Nếu bất kỳ Quốc gia ký kết nào là một bên của tranh chấp mà quyết định của Hội đồng bị kháng cáo, không chấp nhận Điều lệ của Tòa án công lý quốc tế thường trực và các Quốc gia ký kết là bên của tranh chấp này không thể đăng ký lựa chọn trọng tài, thì mỗi Quốc gia ký kết là một bên của tranh chấp phải chỉ định một trọng tài viên và trọng tài viên này lại đề cử một trọng tài viên khác. Nếu một trong các Quốc gia ký kết là một bên của tranh chấp không chỉ định trọng tài viên trong vòng ba tháng kể từ ngày kháng cáo thì chủ tịch Hội đồng sẽ thay mặt cho Quốc gia này chỉ định một trọng tài viên trong danh sách những người có khả năng và khả dụng do Hội đồng giữ. Nếu trong vòng ba mươi ngày các trọng tài viên không thể đồng ý về một trọng tài viên được họ đề cử, thì Chủ tịch Hội đồng phải chỉ định một trọng tài viên trong danh sách nói trên. Sau đó các trọng tài viên và trọng tài viên được đề cử thành lập một tòa án trọng tài. Mọi toà án trọng tài được thành lập theo Điều này hoặc Điều trên phải định ra thủ tục tố tụng của nó và phải quyết định theo đa số phiếu, miễn là Hội đồng có thể quyết định các vấn đề và thủ tục tố tụng trong trường hợp có sự chậm trễ mà Hội đồng xét thấy là quá đáng.

Điều 86. Kháng cáo

Trừ khi Hội đồng quyết định khác, bất kỳ quyết định nào của Hội đồng về việc một hãng hàng không quốc tế có khai thác đúng với các quy định của Công ước này không vẫn còn hiệu lực cho đến khi bị hủy án, Đối với mọi vấn đề khác, các quyết định của Hội đồng phải bị đình chỉ, nếu bị kháng cáo, cho tới khi kháng cáo được quyết định. Những phán quyết của Toà án công lý quốc tế thường trực và của toà án trọng tài phải là chung thẩm và bắt buộc.

Điều 87. Chế tài đối với hãng hàng không không tuân thủ

Mỗi Quốc gia ký kết cam kết không cho phép hãng hàng không của một Quốc gia ký kết khác khai thác qua vùng trời trên lãnh thổ của Quốc gia mình, nếu Hội đồng đã quyết định rằng hãng hàng không này không tuân thủ phán quyết chung thẩm được đưa ra phù hợp với Điều trên.

Điều 88. Chế tài với Quốc gia không tuân thủ

Đại hội đồng phải đình chỉ quyền biểu quyết tại Đại hội đồng và Hội đồng có bất kỳ Quốc gia ký kết nào vi phạm các quy định của Chương này.

Chương 19. CHIẾN TRANH

Điều 89. Chiến tranh và tình trạng khẩn cấp

Trong trường hợp chiến tranh, các quy định của Công ước này không ảnh hưởng tới tự do hành động của bất kỳ Quốc gia ký kết nào có liên quan, hoặc là Quốc gia tham chiến hoặc là Quốc gia trung lập. Nguyên tắc đó cũng được áp dụng trong trường hợp Quốc gia ký kết tuyên bố tình trạng khẩn cấp Quốc gia và thông báo sự kiện này cho Hội đồng biết.

Chương 20. PHỤ LỤC

Điều 90. Thông qua và sửa đổi Phụ lục

Việc thông qua các Phụ lục đã nói tại điểm (1), Điều 54 phải được hai phần ba số thành viên được triệu tập đến cuộc họp của Hội đồng, nhằm mục đích này, tán thành và sau đó Hội đồng phải gửi các Phụ lục này tới mỗi Quốc gia ký kết. Bất kỳ Phụ lục nào như vậy hoặc bất kỳ sửa đổi nào của phụ lục đó phải có hiệu lực sau ba tháng kể từ ngày gửi các phụ lục tới các Quốc gia ký kết hoặc phải có hiệu lực sau một thời gian dài hơn do hội đồng quy định, trừ khi trong thời gian đó, đa số các Quốc gia ký kết chuyển tới Hội đồng việc không chấp nhận của họ.

a) Hội đồng phải thông báo ngay lập tức cho các Quốc gia ký kết biết ngày mà bất kỳ phụ lục hoặc sửa đổi nào của nó có hiệu lực.

Chương 21. PHÊ CHUẨN, GIA NHẬP, SỬA ĐỔI VÀ BÃI BỎ

Điều 91. Phê chuẩn Công ước

a) Công ước này phụ thuộc vào việc phê chuẩn của các Quốc gia đã ký. Văn kiện phê chuẩn phải gửi tới cơ quan lưu trữ của Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ này phải gửi thông báo tới các Quốc gia đã ký và các Quốc gia gia nhập.

Ngay sau khi Công ước này được 26 Quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này sẽ có hiệu lực đối với Quốc gia đó kể từ ngày thứ ba mươi sau ngày gửi văn kiện phê chuẩn thứ hai sáu. Đối với quốc gia phê chuẩn vế sau, Công ước sẽ có hiệu lực kể từ ngày thứ ba mươi sau ngày gửi văn kiện phê chuẩn của Quốc gia đó.

b) Nhiệm vụ của Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là phải thông báo cho Chính phủ của mỗi Quốc gia đã ký và các Quốc gia gia nhập vào ngày Công ước có hiệu lực.

Điều 92. Gia nhập Công ước

a) Công ước này được mở ra cho các thành viên của Liên Hiệp quốc và các Quốc gia liên hệ với các Quốc gia này và các Quốc gia trung lập trong cuộc xung đột hiện tại và trên thế giới.

b) Việc gia nhập này được tiến hành bằng thông báo cho Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và sẽ có hiệu lực kể từ ngày thứ ba mươi sau khi Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nhận được thông báo xin gia nhập, và Chính phủ này phải thông báo lại cho tất cả các Quốc gia ký kết biết.

Điều 93. Kết nạp của Quốc gia khác

Phụ thuộc vào sự chấp nhận của bất cứ tổ chức quốc tế chung nào do các Quốc gia trên thế giới lập ra để bảo vệ hòa bình, các Quốc gia khác với các Quốc gia nói tại Điều 91 và 92 (a) có thể được tiếp nhận tham gia vào Công ước này nếu đại được bốn phần năm số phiếu của Đại hội đồng và trong những điều kiện mà Đại hội đồng có thể quy định, miễn là trong mỗi trường hợp Quốc gia nào đang mong muốn được kết nạp cần phải có sự đồng ý của bất kỳ Quốc gia nào bị họ xâm chiếm hoặc tấn công trong cuộc chiến tranh hiện đại.

Điều 93bis.[††]

a) Ngoài các quy định của các Điều 91, 92 và 93 nói trên:

1. Một Quốc gia mà Chính phủ nước đó đã bị Đại hội đồng Liên hiệp quốc khuyến nghị tước bỏ quyền thành viên trong các cơ quan quốc tế được Liên hiệp quốc lập ra hoặc đặt liên hệ phải tự chấm dứt là thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế;

Một Quốc gia nào bị đuổi ra khỏi Liên hiệp quốc phải tự động chấm dứt là hội viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, trừ khi Đại hội đồng Liên hiệp quốc có một khuyến nghị trái ngược kèm theo hành động đuổi này.

a) Một Quốc gia bị chấm dứt là thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế theo các quy định của Khoản (a) ở trên, sau khi được Đại hội đồng Liên hiệp quốc đồng ý, có thể lại được Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế chấp nhận khi có đơn và được đa số phiếu tại Hội đồng chấp thuận.

b) Các thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế bị đình chỉ thực hiện các quyền và đặc quyền của thành viên Liên hiệp quốc theo đề nghị của Tổ chức này, phải bị đình chỉ các quyền và đặc quyền của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế.

Điều 94. Sửa đổi Công ước

a) Mọi đề nghị sửa đổi Công ước này phải được chấp thuận bằng hai phần ba số phiếu của Đại hội đồng và sẽ có hiệu lực đối với các Quốc gia đã phê chuẩn sửa đổi này, khi đã được một số Quốc gia ký kết theo quy định của Đại hội đồng phê chuẩn. Số Quốc gia đã quy định như vậy không được ít hơn hai phần ba tổng số các Quốc gia ký kết.

b) Đại hội đồng có thể, trong nghị quyết khuyến nghị của mình, quyết định rằng bất kỳ Quốc gia nào không phê chuẩn sửa đổi trong một thời gian gia hạn đã định sau khi sửa đổi này có hiệu lực, thì bị mất quyền là thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế và quyền là thành viên của Công ước này nếu Đại hội đồng nhận thấy sửa đổi này có tính chất chứng minh cho cách giải quyết này.

Điều 95. Bãi bỏ Công ước

a) Mọi Quốc gia ký kết đều có thể bãi bỏ Công ước này sau ba năm sau khi Công ước có hiệu lực bằng cách gửi thông báo tới Chính phủ Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ này phải thông báo ngay tới mỗi Quốc gia ký kết.

b) Việc bãi bỏ có hiệu lực một năm sau kể từ ngày nhận được thông báo và chỉ có tác Quốc gia đã bãi bỏ Công ước.

Chương 22. ĐỊNH NGHĨA

Điều 96. Nhằm mục đích của Công ước này, các từ:

a) “Dịch vụ hàng không” có nghĩa là bất kỳ dịch vụ hàng không thường lệ nào do tầu bay thực hiện nhằm vận chuyển hành khách, bưu kiện hoặc hàng hóa.

b) “Dịch vụ hàng không quốc tế” có nghĩa là một dịch vụ hàng không mà thông qua vùng trời trên lãnh thổ của hai Quốc gia trở lên.

c) “Hãng hàng không” có nghĩa bất kỳ doanh nghiệp vận chuyển hàng không nào cung ứng hoặc khai thác dịch vụ hàng không quốc tế.

d) “Dừng lại không nhằm mục đích thương mại” có nghĩa là một việc hạ cánh nhằm bất kỳ mục đích nào khác mục đích lấy hoặc bỏ hành khách, hàng hóa hoặc bưu kiện.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]