Cải cách giáo dục của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cải cách giáo dục của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là các thay đổi lớn trong hệ thống giáo dục phổ thông và đại học tại Việt Nam sau năm 1976. Chủ đề này cũng liên qua tới những thay đổi chính trong thi tốt nghiệp phổ thông và thi vào đại học. Các đợt thay đổi này chủ yếu do Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành, thuộc bốn đời Bộ trưởng Trần Hồng Quân, Nguyễn Minh Hiển, Nguyễn Thiện Nhân, và Phạm Vũ Luận.

Từ năm 1976 tới nay, với việc ban hành Luật Giáo dục các đợt khác nhau (1998, 2005, 2009 (sửa đổi)), hệ thống giáo dục Việt Nam liên tục có nhiều thay đổi.

Tuy nhiên, theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý II năm 2015 do Viện Khoa học Lao động Xã hội vừa công bố, con số lượng người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp vào khoảng 199,4 nghìn người, chiếm 17,4% số người thất nghiệp, cho thấy việc đào tạo không gắn liền với nhu cầu thị trường lao động, cùng với đó là những bất cập trong công tác phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh ngay từ bậc phổ thông. Phần lớn sinh viên đã tốt nghiệp còn yếu về chuyên môn, thiếu năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh. Trong khi con số cử nhân thất nghiệp lên tới gần vài chục nghìn mỗi năm thì có tới 75% đến 90% số học viên tốt nghiệp các trường trung cấp, cao đẳng nghề có việc làm ngay. Đó chính là hệ quả tất yếu của việc bỏ qua nhiệm vụ phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh ngay từ bậc phổ thông[1]

Các đợt thay đổi cấu trúc hệ thống phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc cải cách giáo dục năm 1950: Năm 1950 hệ thống giáo dục chuyển từ phân ban tú tài cũ sang hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm. Hệ thống giáo dục từ 12 năm (chế độ thuộc địa) chuyển sang hệ 9 năm.

Cuộc cải cách giáo dục năm 1956: Từ năm 1956 đến năm 1976, tại miền Bắc Việt Nam, theo quy định của Bộ Giáo dục (theo Nghị định 596 ngày 30/8/1956 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên) các trường phổ thông sẽ tổ chức theo hệ thống trường phổ thông 10 năm. Hệ thống trường phổ thông 10 năm chia làm 3 cấp học, Cấp 1: 4 năm: từ lớp 1 đến lớp 4, Cấp 2: 3 năm: từ lớp 5 đến lớp 7, và Cấp 3: 3 năm: từ lớp 8 đến lớp 10. Năm học gồm 9 tháng và chia làm 4 học kỳ: Học kỳ 1 từ ngày 1 tháng 9 đến ngày 30 tháng 10 (2 tháng). Học kỳ 2 từ ngày 2 tháng 11 đến ngày 31 tháng 12 (2 tháng). Học kỳ 3 từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 2 tháng 3 (2 tháng). Học kỳ 4 từ ngày 5 tháng 3 đến ngày 31 tháng 5 (3 tháng)[2]. Ở lần cài cách này, chương trình, sách giáo khoa chủ yếu là sao chép lại của các nước xã hội chủ nghĩa, sớm bộc lộ sự quá tải.

Khi hai miền Nam và Bắc thống nhất năm 1976 thì khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo dục đã được thiết lập ở miền Nam; cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học ở miền Bắc phải phù hợp với học trình 12 năm ở trong Nam. Hai hệ thống này song hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm 1981.

Đến năm 1981, thì cho áp dụng hệ 11 năm cho miền Bắc (thêm lớp 5).[3] Năm 1992-1993, hệ thống 11 năm phổ thông của miền Bắc được thay đổi từ 11 năm sang 12 năm (thêm lớp 9). Từ đó đến nay toàn bộ hệ thống là 12 năm thống nhất cả nước. Cuộc cải cách giáo dục bắt đầu từ năm 1981: Hệ thống giáo dục chuyển từ 10 năm sang 12 năm (bỏ lớp vỡ lòng), kéo theo sự đổi mới chương trình sách giáo khoa và cải tiến chữ viết. Do dư luận xã hội phản ứng mạnh, ngành giáo dục dần quay lại chữ viết cũ. Do tinh thần chỉ đạo “không thua chị kém em”, khiến chương trình giảng dạy của cuộc cải cách giáo dục năm 1981 bị chính các nhà trường kêu quá tải. Với ý nghĩa nội dung bao giờ cũng quyết định phương pháp, nếu sách giáo khoa bị quá tải thì không có một phương pháp nào ngoài phương pháp truyền thụ một chiều cho kịp với nội dung sách giáo khoa.

Giai đoạn 2000-2015, các đợt cải cách mang tính manh mún. Năm 2000, Sách giáo khoa được chỉnh lý, hợp nhất. Năm 2007, sách giáo khoa lại thay đổi[4].

Từ năm 2018-2019 trở đi, chương trình giáo dục phổ thông sẽ có sự cải cách, giảm môn bắt buộc, tăng môn tự chọn[5][6] Trong đó, việc tích hợp môn lịch sử và địa lý được xem là một vấn đề gây tranh cãi lớn tại Việt Nam, điều này đã có từ năm 1996. Năm 2015, Quốc hội Việt Nam không cho phép bỏ môn sử trong nhà trường.[7]

Cho phép khối tư nhân tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 4 năm 1975 đến năm 1986 không có bất cứ một trường Tư Thục nào ở các bậc Tiểu, Trung và Đại học được phép hoạt động. Từ năm 1986 thực hiện đổi mới giáo dục, chuyển từ nền giáo dục miễn phí sang giáo dục thu học phí, hình thành mô hình trường tư thục có lợi nhuận.

Phân ban và không phân ban[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn giáo dục Việt Nam áp dụng đại trà chương trình phân ban. Đây là thời kỳ ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Ý tưởng phân ban đã bắt đầu hình thành và thí điểm dưới thời ông Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển.

Năm 2006, Bộ Giáo dục Đào tạo bắt đầu triển khai việc phân ban trong khối trung học phổ thông. Chương trình phân ban Trung học phổ thông được Bộ Bộ Giáo dục Đào tạo thí điểm từ năm học 2003-2004 tại gần 50 trường của 11 tỉnh/thành với 2 ban: khoa học tự nhiên (ban A, học nâng cao các môn toán, lý, hoá, sinh) và ban khoa học xã hội - nhân văn (ban C, học nâng cao văn, sử, địa, ngoại ngữ). Học sinh học ban nào sẽ học nâng cao ban đó. Bộ Giáo dục Đào tạo dự kiến thí điểm một năm rồi triển khai đại trà từ năm học 2004-2005. Tuy nhiên, phải đến năm 2006-2007, chương trình mới triển khai được đại trà sau khi đã nhiều lần điều chỉnh phương án phân ban. Lần điều chỉnh cuối cùng là thêm ban cơ bản, ban B - một ban được giới chuyên môn xem là “ban không phân ban”. Học sinh học ban này sẽ không học nâng cao môn nào. Rốt cuộc học sinh cả nước hầu như chỉ học “ban không phân ban”, và học bổ sung nâng cao các môn để thi đại học theo khối.

Học sinh lớp 12 học hai chương trình với hai bộ sách giáo khoa khác nhau (phân ban và không phân ban). Năm 2009 là năm đầu tiên học sinh lớp 12 cả nước tốt nghiệp và thi tuyển sinh Đại học Cao đẳng theo chương trình phân ban đại trà. Tuy nhiên có rất nhiều bất hợp lý[8].

Chương trình phân ban bị coi là một lãng phí lớn và thất bại. Tới năm 2014, chương trình phân ban đã hoàn toàn chấm dứt[9].

Các đợt thay đổi phương thức thi tốt nghiệp phổ thông và thi đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ năm 2005 kỳ thi Tốt nghiệp Tiểu học được bãi bỏ, do đó chỉ còn các kỳ thi Tốt nghiệp Trung học Cơ Sở (hết lớp 9) và Trung học Phổ Thông (lớp 12). Từ năm 2006, kỳ thi tốt nghiệp Trung học cơ sở cũng bị bãi bỏ.

Từ năm học 2006-2007, do cải cách khối Trung học phổ thông học chia theo phân ban (ba ban).

Thi tuyển đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn trước 1991, các trường đại học tự tổ chức thi tuyển, tự ra đề.

Giai đoạn 1991 đến 200?, Bộ GD-ĐT xuất bản Bộ Đề thi các môn, các trường đại tự tổ chức thi tuyển, đề ra lấy trong Bộ Đề thi.

Giai đoạn 200?-200?, các trường tự tổ chức thi, đề thi có thể lấy hoặc không lấy trong Bộ Đề thi.

Giai đoạn 2002-2014, Bộ GD-ĐT thống nhất ra đề chung cho các khối, các trường tổ chức thi với ngày thi ấn định theo ngày thi của khối, thí sinh phải nộp đơn xin dự thi vào trường trước khi thi đại học.

Năm 2015, kỳ thi đại học được gộp chung với kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Các học sinh sau khi hoàn thành chương trình học phổ thông 12 năm phải tham gia kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, và được phép lựa chọn sử dụng hay không kết quả thi này để tham gia xét tuyển đại học.

Giáo dục đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến 2005, giáo dục đại học đã thiết lập các bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ nhưng đại đa số theo niên chế, chỉ có một vài trường thí điểm theo chế độ tín chỉ. Từ năm 2006 bắt đầu thiết lập một số trường (khoảng 7 trường) theo tín chỉ, và đến 2010 đa số các trường ứng dụng đào tạo theo tín chỉ.

Từ năm 2014, theo đề xuất, sẽ có bốn trường đại học công lập thử nghiệm cơ chế mới: tự chủ tài chính.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]