Chính sách hai con

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chính sách hai con là chính sách được chính phủ một số quốc gia áp dụng để giới hạn mỗi gia đình chỉ cho phép có hai con. Chính sách này được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam và được áp dụng cho một số đối tượng tại Trung Quốc. Mới đây, Philippines cũng đã thảo luận về việc áp dụng chính sách này. Mặc dù không quy định trong luật, vào những năm 70, người dân Hồng Kông cũng rất được khuyến khích có tối đa hai con, và đây từng là một phần của chiến lược kế hoạch hóa gia đình của vùng lãnh thổ này.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam đã có chính sách hai con vào những năm 1960, và đã áp dụng lại lần nữa từ những năm 1990[1]. Nhờ kế hoạch hóa gia đìnhtỉ lệ sinh ở Việt Nam đã giảm, trong khi trước đây, trung bình tỉ lệ này là 4 trẻ em/phụ nữ. Năm 2003, chính sách này đã được tạm dừng. Năm 2008, có thông tin cho rằng chính phủ đang cân nhắc khôi phục chính sách này.[2][3]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thập kỷ 70, công dân Trung Quốc được khuyến khích mỗi gia đình có hai con. Chính Cách mạng Văn hóa và sự căng thẳng do nó mang đến là những nhân tố chính cho việc áp dụng chính sách này. Trong thời gian này, tỉ lệ sinh đã giảm mạnh từ 6 trẻ/phụ nữ xuống còn gần 3 trẻ/phụ nữ[4].

Hồng Kông[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hồng Kông, chiến dịch "Chỉ hai là đủ" vào những năm 1970 khuyến khích mỗi gia đình chỉ sinh hai hoặc ít hơn. Chiến dịch này đã góp phần giảm tỉ lệ sinh trong những thập kỷ tiếp theo.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Vietnam's two-child policy". BBC. ngày 8 tháng 11 năm 2000. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  2. ^ "Vietnam plans return to two-child policy to tackle population growth". Guardian. ngày 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  3. ^ “Vietnam debates two-child policy”. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009. 
  4. ^ CIA World Factbook