Chó chăn gia súc Bergamasco

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chó chăn gia súc Bergamasco
300px
Chó chăn gia súc Bergamasco - một con chó cái
Tên khác Bergamasco Shepherd Dog
Bergamasco
Cane da pastore Bergamasco
Nguồn gốc Ý
Đặc điểm
Nặng Đực 70–84 lb (32–38 kg)
Cái 57–71 lb (26–32 kg)
Cao Đực 23,5 in (60 cm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Cái 22 in (56 cm)
Tuổi thọ 13-15 năm

Chó chăn gia súc Bergamasco (tiếng Ý: pastore bergamasco) là một giống chó có nguồn gốc ở dãy Alps của Ý gần Bergamo, nơi nó ban đầu được sử dụng như một con chó chăn gia súc.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2018, một nghiên cứu di truyền đã phát hiện ra rằng trước năm 1859, một con chó chăn gia súc được phân bố rộng rãi ở châu Âu đã tăng lên cho Chó chăn cừu Đức, Berger Picard của Pháp, và năm giống chăn gia súc Ý: Bergamasco Shepherd, Cane Paratore, Lupino del Gigante, Pastore d 'Oropa, và nó: Cane da pastore della Lessinia e del Lagorai.[1]

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Bergamasco là một con chó chăn gia súc khá cơ bắp, nặng nề với đầu to và đuôi dày treo xuống và hơi cong lên ở cuối. Toàn bộ con chó được phủ một lớp lông dồi dào tạo thành thảm lông. Bergamasco có cấu hình nhỏ gọn nhưng chỉ dài hơn một chút so với chiều cao. Tính năng đặc trưng của chó Bergamasco là lớp lông độc đáo, được tạo thành từ ba loại lông. Bộ lông tạo thành những sợi lông (những sợi lông dệt lại với nhau tạo ra những lớp lông bằng phẳng) hoặc những tấm thảm rộng, bao phủ thân và chân của chó, và bảo vệ chó khỏi thời tiết và những kẻ săn mồi. Lông trên đầu thường dài và treo trên mắt.[2]

Chó này có chiều cao khi đứng là 23 inch cho chó đực và 22 inch cho chó cái. Khác biệt một inch cao hơn hoặc ngắn hơn lý tưởng là chấp nhận được. Chó đực nặng từ 70 đến 84 pound. Con cái nặng từ 57 đến 71 pound. Bergamasco là một con chó chăn gia súc cơ bắp, nặng nề với rất nhiều sức lực. Chó Bergamasco dài hơn một chút so với chiều cao, với chiều dài cơ thể đo từ điểm vai đến điểm của mông dài khoảng 5 đến 6 phần trăm so với chiều cao đo tại các vai.[2]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Talenti, Andrea; Dreger, Dayna L; Frattini, Stefano; Polli, Michele; Marelli, Stefano; Harris, Alexander C; Liotta, Luigi; Cocco, Raffaella; Hogan, Andrew N; Bigi, Daniele; Caniglia, Romolo; Parker, Heidi G; Pagnacco, Giulio; Ostrander, Elaine A; Crepaldi, Paola (2018). “Studies of modern Italian dog populations reveal multiple patterns for domestic breed evolution”. Ecology and Evolution. doi:10.1002/ece3.3842. 
  2. ^ a ă “AKC Breed Standard” (PDF). AKC Breed Standard.