Dương Văn Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dương Văn Đức (19252000) là một cựu Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông được biết đến với vai trò chỉ huy một cuộc đảo chính bất thành nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh vào ngày 14 tháng 9 năm 1964.

Thân thế binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1925 tại Thủ Đức, Gia Định, từng tốt nghiệp Trung học Đệ nhị cấp chương trình phổ thông Pháp tại Sài Gòn. Tháng 7 năm 1946, ông theo học tại Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông tại Đà Lạt. Bấy giờ, trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp năm 1947, trong đó có đến 10 người về sau trở thành những tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa. Trong số này, có các sĩ quan trẻ như Nguyễn Khánh, Trần Thiện KhiêmLâm Văn Phát, người người về sau có những tác động quan trọng trong sự nghiệp của ông.

Sau khi tốt nghiệp ra trường với cấp bậc Chuẩn úy, ông được bổ về phục vụ trong Chi đội Nhảy dù thuộc Vệ binh Nam phần. Năm 1948, ông được thăng Thiếu úy, đến năm 1949, thăng Trung úy.

Tháng 5 năm 1950, ông được thăng Đại úy và được cử đi du học lớp căn bản sĩ quan bộ binh tại Trường Võ bị Saint Cyr ở Pháp đến tháng 7 năm 1951. Cuối năm 1951, ông được thăng Thiếu tá, chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia Việt Nam và được cử theo học lớp Chỉ huy Chiến thuật tại Hà Nội. Năm 1952, được cử đi du học lớp tham mưu tại Trường Tham mưu Paris Pháp, một năm sau về nước được thăng lên Trung tá.

Tướng trẻ thất thế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, ông được Thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Chiến dịch Tự do tiếp thu Cà Mau kiêm quyền Tỉnh trưởng Sóc Trăng kiêm Chỉ huy trưởng Bảo an Phân khu Sóc Trăng. Cùng năm ông được thăng cấp lên Đại tá Chỉ huy trưởng Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, tấn công lực lượng quân sự của Hoà Hảo đang kiểm soát phần lớn miền Tây Nam Bộ.

Ngày 5 tháng 6 năm 1955, ông chỉ huy binh sĩ tiến chiếm Cái Vồn (Vĩnh Long), phá tan đại bản doanh của tướng Trần Văn Soái (Năm Lửa). Đến ngày 29 tháng 6 năm 1955, ông tiến quân vào núi Ba Chúc, tấn công lực lượng của tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt), tuy nhiên không giành được thắng lợi nhanh chóng. Cố vấn Ngô Đình Nhu sốt ruột và đề nghị Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Ngọc Thơ tìm chỉ huy khác thay thế. Ngày 29 tháng 12 năm 1955, Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do ông chỉ huy và cho Đại tá Dương Văn Minh lên thay. Để bù lại đầu năm 1956, Quốc trưởng phong ông lên Thiếu tướng. Khi đó ông mới 31 tuổi và là một sĩ quan mang hàm tướng với tuổi đời trẻ nhất trong Quân đội Việt Nam Cộng hoà.

Tướng Đức biểu lộ bất bình về chuyện chấm dứt công tác một cách đột ngột này. Do đó, ngày 10 tháng 6 năm 1956, ông được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hàn Quốc. Tại đây ông quen và cưới vợ người Đức là nhân viên Tòa Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức tại Hàn Quốc.

Do sự việc này, Tổng thống Diệm đã cách chức và triệu hồi ông về nước, sau đó đưa ông đi học khóa chỉ huy và tham mưu ở Mỹ. Khi về nước, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Thư ký Thường trực Bộ Quốc phòng thay tướng Dương Văn Minh, một chức vụ không có thực quyền.

Sau đó, ông đã có vấn đề cá nhân với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên từ chức và sống lưu vong ở Pháp, trước khi trở về sau vụ bắt giữ và sát hại hai anh em Ngô Đình Diệm sau cuộc đảo chính năm 1963.

Đảo chính được mùa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi về nước, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng chấp nhận cho tái ngũ với cấp bậc cũ là Thiếu tướng, nhận giữ chức Tham mưu phó Kế hoạch Bộ Tổng tham mưu, phụ tá cho tướng Lê Văn Kim. Tuy nhiên, đến tháng 1 năm 1964, ông tham gia âm mưu đảo chính bởi các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện KhiêmĐỗ Mậu. Sau khi cuộc chỉnh lý thành công, ông được thăng hàm Trung tướng và được cử làm Tư lệnh Quân đoàn IV.

Mặc dù vậy, ông tiếp tục tham dự một âm mưu nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh do tướng Trần Thiện Khiêm cầm đầu. Tuy nhiên, tướng Nguyễn Khánh sớm phát hiện, ngay lập tức đẩy tướng Trần Thiện Khiêm đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan và cách chức 2 tư lệnh Quân đoàn là Lâm Văn Phát (Quân đoàn III) và Dương Văn Đức (Quân đoàn IV).

Điều này khiến hai người tiến hành một cuộc đảo chính chống lại tướng Nguyễn Khánh. Ngày 13 tháng 9 năm 1964, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Huỳnh Văn Tồn từ Cần Thơ, chỉ huy Quân đoàn 4 về làm binh biến. Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu trong vai trò tham mưu trưởng liên quân đã yêu cầu tướng Nguyễn Chánh Thi đem quân về dẹp tan cuộc binh biến này. Ban đầu quân đảo chính hầu như chiếm được đô thành Sài Gòn không phải giao chiến, nhưng đã để tướng Khánh trốn thoát được, và sau khi nhóm tướng trẻ nhận được xác nhận hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, đã tăng áp lực buộc những kẻ âm mưu đảo chính phải bỏ cuộc.[1]

Ngày 15 tháng 9, tướng Nguyễn Khánh trở về Sài Gòn, tuyên bố cách chức và buộc giải ngũ tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát và một số sỹ quan cao cấp chỉ huy đảo chính. Tuy vậy, không ai trong số họ bị bắt giữ và vẫn được tự do. Tại phiên tòa quân sự sau đó, các cáo buộc đã bị hủy bỏ.

Nhưng trớ trêu thay, không lâu sau chính tướng Nguyễn Khánh bị các tướng trẻ buộc phải lưu vong và không bao giờ có thể trở về.

Say tỉnh - tỉnh say[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo chính thất bại, bị tước hết quyền lực, dù vẫn được tự do, nhưng ông bị cho là đã bị chấn thương tâm lý nghiêm trọng. Trong những năm sau đó, ông thường xuyên có những biểu hiện rối loạn tâm thần, có những hành vi hoặc phát biểu bôi nhọ các tướng Thiệu - Kỳ. Đầu năm 1966, ông lại bị bắt vì cho rằng đã có những hoạt động chống lại Nội các Chiến tranh của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nhưng sau đó lại được tha với lý do bệnh tâm thần.

Những năm sau đó, tướng Đức sống trong hoàn cảnh túng thiếu, thường xuyên trong trạng thái say rượu, lang thang trên nhiều đường phố Sài Gòn, nhiều lần mắng chửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở nơi công cộng. Mặc dù vậy, sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông vẫn bị chính quyền mới bắt giữ và đưa đi lưu đày trong 8 năm. Trong thời gian bị lưu đày, ông vẫn thường xuyên có những hành động cũng như phát ngôn bôi nhọ chính quyền mới. Vì vậy, mãi đến ngày 14 tháng 9 năm 1987 ông mới được trả tự do.

Ông mất năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có 2 người vợ:

  • Bà Nguyễn Thị Ba, có với ông 3 người con gồm 2 trai, 1 gái.
  • Bà Ilse Meyfarth, người Đức, có với ông 3 người con gồm 2 trai, 1 gái. Ly dị với ông năm 1969 và đưa các con trở về Đức.[cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Cao Kỳ, Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào?. Chương V: 1964: Năm của bảy cuộc đảo chính.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jacobs, Seth (2006). Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950–1963. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-4447-8. 
  • Kahin, George McT. (1979). “Political Polarization in South Vietnam: U.S. Policy in the Post-Diem Period”. Pacific Affairs (Vancouver, British Columbia) 52 (4): 647–73. 
  • Kahin, George McT. (1986). Intervention: how America became involved in Vietnam. New York City, New York: Knopf. ISBN 0-394-54367-X. 
  • Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A history. New York City, New York: Penguin Books. ISBN 0-670-84218-4. 
  • Moyar, Mark (2006). Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965. New York City, New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-86911-0. 
  • Shaplen, Robert (1966). The Lost Revolution: Vietnam 1945–1965. London: Andre Deutsch. 
  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9. 
  • Lược Sử QL VNCH _ Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.