Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift
Taylor Swift Reputation Tour31.jpg
Swift biểu diễn trong Taylor Swift's Reputation Stadium Tour năm 2018
Album phòng thu7
Album trực tiếp4
Album video4
EP2
Đĩa đơn52
Đĩa đơn quảng bá17

Ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift đã phát hành bảy album phòng thu, năm đĩa mở rộng (EP) và 52 đĩa đơn. Cô là một trong những nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất mọi thời đại, với doanh số tiêu thụ tổng cộng 50 triệu album và 150 triệu đĩa đơn.[1] Tại Hoa Kỳ, Swift là nghệ sĩ tiêu thụ nhạc kỹ thuật số chạy thứ ba với 121 triệu chứng nhận bạch kim,[2] là nghệ sĩ đầu tiên có bốn album bán hơn một triệu bản trong tuần đầu ra mắt trên bảng xếp hạng Billboard 200[3] và đã bán được hơn 32,7 triệu album.[4][5]

Swift khởi nghiệp bằng hợp đồng thu âm với Big Machine Records năm 2005 và phát hành album phòng thu đầu tay cùng tên vào năm kế tiếp. Tại Mỹ, Taylor Swift đạt vị trí thứ 5 và là tác phẩm trụ hạng lâu nhất trên bảng xếp hạng Billboard 200 trong thập niên 2000.[6] Toàn bộ các đĩa đơn như "Tim McGraw", "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No" đều nằm trong top 40 tại quốc gia này và đạt chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA).[7][8] Swift tiếp tục phát hành hai đĩa mở rộng là Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection (2007) và Beautiful Eyes (2008), đạt vị trí lần lượt là 20 và 9 trên bảng xếp hạng Billboard 200.[9]

Swift phát hành album phòng thu thứ hai, Fearless (2008) dẫn đầu các bảng xếp hạng ở Hoa Kỳ, Canada và New Zealand, trở thành album bán chạy nhất Hoa Kỳ năm 2009[10] và tất cả 13 bài hát trong album đều xếp hạng trên Billboard Hot 100, phá kỷ lục về số bài hát lọt vào top 40 bảng xếp hạng này trong cùng một album.[11] Bài hát "Love Story", "You Belong with Me" và "Fearless" vươn đến top 10 tại Mỹ, trong khi "Love Story" là đĩa đơn quán quân đầu tiên của cô ở Úc. Thành tích tương tự diễn ra ở Canada với đĩa đơn "Today Was a Fairytale", trích từ album nhạc phim Valentine's Day (2010).[12] Album phòng thu thứ ba của nữ ca sĩ, Speak Now (2010) đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và xuất hiện trong top 10 ở nhiều quốc gia khác, bao gồm Úc, Canada và Vương quốc Liên hiệp Anh. Ba trong số các đĩa đơn gồm "Mine", "Back to December" và "Mean" đều vươn đến top 10 tại Canada.[8]

Album phòng thu thứ tư, Red (2012) là tác phẩm quán quân đầu tiên của Swift tại Vương quốc Liên hiệp Anh và dẫn đầu ở Canada, Ireland, New Zealand và Hoa Kỳ. Album phát hành các đĩa đơn thành công "I Knew You Were Trouble" và "We Are Never Ever Getting Back Together", những quán quân đầu tiên của cô tại New Zealand và Hoa Kỳ.[13] Album phòng thu thứ năm mang tên 1989 (2014) đứng đầu Billboard 200, với doanh số 1.287 triệu bản trong tuần đầu tiên, trở thành album thứ ba của cô bán hơn 1 triệu bản chỉ trong tuần lên kệ.[14] Album còn dẫn đầu tại nhiều quốc gia như Úc, Canada và Vương quốc Liên hiệp Anh. Các đĩa đơn, "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" đều đứng đầu bảng xếp hạng ở Mỹ, Úc và Canada.[15] Bài hát Swift thu âm cùng Zayn cho album nhạc phim Fifty Shades Darker có tên "I Don't Wanna Live Forever" (2016) là đĩa đơn thứ 20 của Swift đạt tới top 10 tại Hoa Kỳ, giúp cô san bằng kỷ lục nữ nghệ sĩ có lượng đĩa đơn xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhiều thứ hai.[16] Album thứ sáu của cô, Reputation (2017) và đĩa đơn mở đường "Look What You Made Me Do" đạt vị trí quán quân tại Úc, Canada, Ireland, New Zealand, Liên hiệp Anh và Mỹ. Đĩa đơn kế tiếp "...Ready for It?" đạt top 10 tại Mỹ, Úc, Canada, và Liên hiệp Anh. Trong cùng khoảng thời gian, Swift đã phát hành một số đĩa đơn kết hợp với các nghệ sĩ khác. Album gần đây nhất của nữ ca sĩ, Lover (2019) tiêu thụ hơn ba triệu đơn vị trong tuần đầu tiên trên toàn thế giới,[17] và cho ra đời ba đĩa đơn lọt top 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100: "Me!", "You Need to Calm Down" và "Lover".

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album phòng thu, với vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Album Thông tin Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa KỳMỹ
[9]
CanadaCanada
[18]
Đức
Đức
[19]
Cộng hòa Ireland
Ireland
[20]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
L.H.
Anh

[21]
New Zealand
New Zealand
[22]
Nhật Bản
Nhật Bản
[23]
PhápPháp
[24]
Thụy Điển
Thụy Điển
[25]
ÚcÚc
[26]
Taylor Swift 5 14 81 38 53 33
Fearless
  • Phát hành: 11 tháng 11 năm 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kĩ thuật số
1 1 12 7 5 1 8 26 12 2
  • Thế giới: 12.000.000[c]
  • Mỹ: 7.180.000[b]
  • L.H. Anh: 609.000[d]
  • Úc: 500.000[e]
Speak Now
  • Phát hành: 25 tháng 10 năm 2010
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: LP, CD, tải kĩ thuật số
1 1 15 6 6 1 6 39 18 1
  • Mỹ: 6× Bạch kim[7]
  • Canada: 3× Bạch kim[28]
  • Ireland: Vàng Vàng[41]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand:  Bạch kim[35]
  • Nhật Bản: Vàng Vàng[42]
  • Úc: 2× Bạch kim[43]
Red
  • Phát hành: 22 tháng 10 năm 2012
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số
1 1 5 1 1 1 3 30 8 1
  • Thế giới: 6.000.000[i]
  • Mỹ: 4.450.000[b]
  • L.H.Anh: 681.700[j]
  • Nhật Bản: 256.000[k]
1989
  • Phát hành: 27 tháng 10 năm 2014
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số
1 1 4 1 1 1 3 9 23 1
  • Thế giới: 10.000.000[l]
  • Mỹ: 6.190.000[b]
  • Canada: 530.000[m]
  • L.H.Anh: 1.250.000[n]
  • Nhật Bản: 268.200[o]
  • Pháp: 70.000[p]
  • Mỹ: 9× Bạch kim[7]
  • Canada: 6× Bạch kim[28]
  • Đức:  Bạch kim[33]
  • L.H. Anh: 4× Bạch kim[29]
  • New Zealand: 3× Bạch kim[58]
  • Nhật Bản:  Bạch kim[59]
  • Pháp:  Bạch kim[49]
  • Thụy Điển: Vàng Vàng[60]
  • Úc: 9× Bạch kim[61]
Reputation
  • Phát hành: 10 tháng 11 năm 2017
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số, cassette, streaming
1 1 2 1 1 1 3 11 2 1
  • Thế giới: 4.500.000[q]
  • Mỹ: 2.230.000[b]
  • Canada: 80.000[r]
  • L.H.Anh: 363.000[s]
  • Nhật Bản: 28.281[t]
  • Pháp: 13.000[u]
  • Úc: 54.976[v]
  • Mỹ: 3× Bạch kim
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[66]
  • Nhật Bản: Vàng Vàng[67]
  • Thụy Điển: Vàng Vàng[60]
  • Úc: 3× Bạch kim[68]
Lover 1 1 2 1 1 1 3 5 1 1
  • Mỹ: 1.050.000[w]
  • L.H.Anh: 35.000[70]
  • Nhật Bản: 32.601[71]
  • Pháp: 5.700[72]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[73]
  • Úc:  Bạch kim[74]
Folklore
  • Phát hành: 24 tháng 7 năm 2019
  • Hãng đĩa Republic, Taylor Swift Productions, Inc.
  • Định dạng: CD, LP, tải nhạc số, cassette, streaming
1 1 5 1 1 3 8 12 1 1
  • Thế giới: 2,030,000
  • Mỹ: 1,000,000[75][76]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[77]
"—" Album không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album trực tiếp với ghi chú
Tựa đề Chi tiết Ghi chú
Rhapsody Originals
  • Phát hành: Tháng 11 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Tải kĩ thuật số
  • Album acoustic trực tiếp phát hành trên Rhapsody (ngày nay là Napster). Đĩa gồm những bài hát từ album Taylor Swift.[78]
iTunes Live from SoHo
  • Phát hành: 30 tháng 1 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Tải kĩ thuật số
  • Album trực tiếp bán độc quyền trên hệ thống iTunes Store. Album gồm những màn trình diễn trực tiếp từ album Taylor Swift và một phiên bản trình bày lại "Umbrella" của Rihanna.[79][80]
Speak Now World Tour – Live
  • Phát hành: 21 tháng 11 năm 2011
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: tải kỹ thuật số, CD, Blu-ray/DVD
Spotify Singles
  • Phát hành: 13 tháng 4 năm 2018
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Streaming

Album tuyển tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết Ghi chú
Reputation Stadium Tour Surprise Song Playlist
  • Phát hành: 30 tháng 11 năm 2018 (có nguồn cho rằng 'ngày phát hành chính thức' là ngày 7 tháng 11 năm 2018[83])
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Streaming
  • Album tuyển tập, chỉ dưới dạng streaming, với một danh sách phát, bao gồm tất cả những bài hát được gọi là 'secret songs' ('bài hát bí mật') tại các show trong chuyến lưu diễn hòa nhạc Taylor Swift's Reputation Stadium Tour.[84]

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa mở rộng, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận và doanh số
Tựa đề Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa Kỳ
Mỹ
[9]
Nhật Bản
Nhật Bản
[23]
Sounds of the Season:
The Taylor Swift Holiday Collection
  • Phát hành: 14 tháng 10 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
20 76
  • Mỹ: 1.100.000[x]
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
Beautiful Eyes
  • Phát hành: 15 tháng 7 năm 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
9
  • Mỹ: 341.000[y]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Hát chính[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn hát chính, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ[8]
Canada Canada
[85]
Đan Mạch Đan Mạch
[86]
Cộng hòa Ireland Ireland
[20]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H.
Anh

[21]
New Zealand New Zealand
[22]
Nhật Bản Nhật Bản
[87]
Pháp Pháp
[24]
Thụy Điển Thụy Điển
[88]
Úc Úc
[89]
"Tim McGraw" 2006 40
  • Mỹ: 1.600.000[z]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
Taylor Swift
"Teardrops on My Guitar" 2007 13 45 51
  • Mỹ: 3× Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
"Our Song" 16 30
  • Mỹ: 4× Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
"Picture to Burn" 2008 28 48
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
"Should've Said No" 33 67 18
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"Change" 10
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
AT&T Team USA Soundtrack
"Love Story" 4 4 16 3 2 3 3 14 10 1
  • Thế giới: 8.100.000[ae]
  • Mỹ: 6.100.000[af]
  • L.H. Anh: 648.370[ag]
Fearless
"White Horse" 13 43 60 41
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
  • Úc: Vàng Vàng[94]
"You Belong with Me" 2009 2 3 32 12 30 5 10 47 5
  • Mỹ: 7× Bạch kim[7]
  • Canada: 2× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • New Zealand:  Bạch kim[92]
  • Nhật Bản: Vàng[95]
  • Úc: 4× Bạch kim[93]
Fearless
"Fifteen" 23 19 48
  • Mỹ: 2x Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng[28]
"Fearless" 2010 9 69 111
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"Today Was a Fairytale" 2 1 41 57 29 63 3
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • Úc:  Bạch kim[96]
Valentine's Day
"Mine" 3 7 38 30 16 6 48 9
  • Mỹ: 3× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
  • New Zealand: Vàng Vàng[92]
  • Nhật Bản: Vàng Vàng[97]
  • Úc: 2× Bạch kim[96]
Speak Now
"Back to December" 6 7 24 26
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
"Mean" 2011 11 10 45
  • Mỹ: 3× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
  • Úc: Vàng Vàng[94]
"The Story of Us" 65 70
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"Sparks Fly" 17 28 97
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"Ours" 13 68 181 91
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"Safe & Sound"
(hợp tác với The Civil Wars)
30 31 67 11 38
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • Úc:  Bạch kim[94]
The Hunger Games
"Long Live"
(hợp tác với Paula Fernandes)
2012 85 [as] Speak Now World Tour – Live
"Eyes Open" 19 17 65 70 6 47
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • New Zealand: Vàng Vàng[99]
The Hunger Games
"We Are Never Ever Getting Back Together" 1 1 18 4 4 1 2 18 16 3
  • Mỹ: 4.100.000[au]
  • L.H. Anh: 1.100.000[av]
  • Mỹ: 6× Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
  • Đan Mạch:  Bạch kim[100]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[101]
  • Nhật Bản:  Bạch kim[102]
  • Thụy Điển:  Bạch kim[103]
  • Úc: 5× Bạch kim[104]
  • Ý: Vàng Vàng[105]
Red
"Ronan" 16
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
Không có
"Begin Again" 7 4 25 30 11 20
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • Canada: Vàng Vàng[28]
Red
"I Knew You Were Trouble" 2 2 3 4 2 3 51 14 37 3
  • Mỹ: 7× Bạch kim[7]
  • Canada: 5× Bạch kim[28]
  • Đan Mạch: Vàng Vàng[109]
  • Đức:  Bạch kim[110]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[111]
  • Nhật Bản: Vàng Vàng[102]
  • Thụy Điển: Vàng Vàng[112]
  • Úc: 6× Bạch kim[104]
"22" 2013 20 20 12 9 23 53 155 21
  • Mỹ: 3× Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
  • Đan Mạch: Vàng Vàng[113]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[114]
  • Úc: 2× Bạch kim[104]
"Highway Don't Care"
(với Tim McGraw, hợp tác với Keith Urban)
22 21 73
  • Mỹ: 2× Bạch kim[115]
Two Lanes of Freedom
"Red" 6 5 25 26 14 43 103 30
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • Úc: Vàng Vàng[94]
Red
"Everything Has Changed"
(hợp tác với Ed Sheeran)
32 28 5 7 22 28
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[116]
  • Úc:  Bạch kim[104]
"Sweeter Than Fiction" 34 17 38 25 26 44 One Chance
"The Last Time"
(hợp tác với Gary Lightbody)
[bg] 73 25 15 Red
"Shake It Off" 2014 1 1 4 3 2 1 4 6 3 1
  • Mỹ:  Kim cương[7]
  • Canada: 6× Bạch kim[28]
  • Đan Mạch: Vàng Vàng[121]
  • L.H. Anh: 2× Bạch kim[29]
  • New Zealand: 3× Bạch kim[122]
  • Nhật Bản: 3× Bạch kim[123]
  • Thụy Điển:  Bạch kim[124]
  • Úc: 6× Bạch kim[93]
  • Ý: Bạch kim[125]
1989
"Blank Space" 1 1 4 4 2 45 27 1
  • Mỹ: 8× Bạch kim[7]
  • Canada: 4× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand:  Bạch kim[127]
  • Úc: 5× Bạch kim[93]
  • Ý:  Bạch kim[128]
"Style" 2015 6 6 38 21 11 53 85 8
  • Mỹ: 2.200.000[bo]
  • L.H. Anh: 393.000[bp]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[7]
  • Canada: 2× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[129]
  • Úc: 2× Bạch kim[93]
"Bad Blood"
(hợp tác với Kendrick Lamar)
1 1 8 4 1 20 14 1
  • Mỹ: 6× Bạch kim[7]
  • Canada: 3× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[130]
  • Úc: 3× Bạch kim[131]
"Wildest Dreams" 5 4 39 40 8 122 3
  • Mỹ: 4× Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[132]
  • Úc: 2× Bạch kim[133]
"Out of the Woods" 2016 18 8 23 136 6 70 19
"New Romantics" 46 58 190 35
"I Don't Wanna Live Forever"
(hợp tác với Zayn)
2 2 2 4 5 4 4 1 3
  • Mỹ: 4× Bạch kim[7]
  • Canada: 2× Bạch kim[28]
  • Đan Mạch:  Bạch kim[139]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand:  Bạch kim[140]
  • Pháp:  Kim cương[141]
  • Thụy Điển:  Bạch kim[142]
  • Úc: 2× Bạch kim[143]
  • Ý: 3× Bạch kim[144]
Fifty Shades Darker
"Look What You Made Me Do" 2017 1 1 12 1 1 1 7 4 7 1
  • Mỹ: 4× Bạch kim[7]
  • Canada: 3× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[146]
  • Pháp: Vàng Vàng[141]
  • Thụy Điển: 2× Bạch kim[142]
  • Úc: 4× Bạch kim[147]
  • Ý:  Bạch kim[148]
Reputation
"...Ready for It?" 4 7 12 7 9 20 32 3
  • Mỹ: 2× Bạch kim[7]
  • Canada: 2× Bạch kim[28]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • Thụy Điển: Vàng Vàng[142]
  • Úc: 2× Bạch kim[147]
"End Game"
(hợp tác với Ed SheeranFuture)[149]
18 11 68 49 [ca] 130 36
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
  • Úc:  Bạch kim[147]
"New Year's Day"[151] [cb]
"Gorgeous"[cc] 2018 13 9 18 15 19 52 64 41 9
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • Úc:  Bạch kim[147]
"Delicate" 12 20 31 45 33 169 98 28
  • Mỹ: 2× Bạch kim[155]
  • Úc:  Bạch kim[147]
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
"Getaway Car"[ce] [cf] [cg]
"Me!"
(hợp tác với Brendon Urie từ Panic! at the Disco)
2019 2 2 19 5 3 3 6 66 11 2
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
  • Canada:  Bạch kim[28]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[162]
  • Úc:  Bạch kim[163]
Lover
"You Need to Calm Down" 2 4 5 5 5 23 154 35 3
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[162]
  • Úc:  Bạch kim[147]
"Lover"
(solo hoặc hợp tác với Shawn Mendes)
10 7 9 14 3 76 37 3
  • L.H. Anh:  Bạc[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[164]
  • Úc:  Bạch kim[147]
"Beautiful Ghosts"[165] [cj] [ck] Cats: Highlights from the Motion Picture Soundtrack
"Christmas Tree Farm" 59 55 51
[168]
71 [cl] 96 Đĩa đơn không album
"The Man"[170] 2020 23 21 16 21 15 63 17 Lover
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn hợp tác, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[8]
Canada Canada
[85]
Cộng hòa Ireland Ireland
[20]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H.
Anh

[21]
New Zealand New Zealand
[22]
Úc Úc
[89]
"Two Is Better Than One"
(Boys Like Girls hợp tác với Taylor Swift)
2009 18 18 Love Drunk
"Half of My Heart"
(John Mayer hợp tác với Taylor Swift)
2010 25 53 71 Battle Studies
"Both of Us"
(B.o.B hợp tác với Taylor Swift)
2012 18 23 26 22 10 5 Strange Clouds
"Babe"
(Sugarland hợp tác với Taylor Swift)
2018 72 94 [co] Bigger
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn quảng bá, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[8]
CanadaCanada
[85]
Đan Mạch Đan Mạch
[86]
Cộng hòa IrelandIreland
[20]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandL.H.
Anh

[21]
New Zealand
New Zealand
[22]
Nhật BảnNhật Bản
[87]
Pháp Pháp
[24]
Thụy Điển
Thụy
Điển

[25]
ÚcÚc
[89]
"I Heart ?"[178] 2008 Beautiful Eyes
"You're Not Sorry" 11 11
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
Fearless
"Crazier" 2009 17 67 100 57
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
Hannah Montana: The Movie
"American Girl" [cs] Không có
"Speak Now" 2011 8 8 34 20
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
Speak Now
"If This Was a Movie" 10 17 191
"Superman" 26 82
"State of Grace" 2012 13 9 43 36 20 44 Red
"The Moment I Knew" 64 58 197
"Come Back... Be Here" 64 188
"Girl at Home" 75
"Welcome to New York" 2014 48 19 27 55 39 6 80 85 23
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
1989
"Wonderland" 2015 51 59 171 84
"You Are in Love" 83 99
"Call It What You Want" 2017 27 24 44 29 34 76 16 Reputation
"Delicate"
(thu âm tại The Tracking Room Nashville)
2018 Spotify Singles[182]
"September"
(thu âm tại The Tracking Room Nashville)
"The Archer" 2019 38 41 31 43 28 [cv] 19 Lover
"Only the Young" 2020 50 57 40
[184]
57 [cw] 31
[186]
Không có
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Bài hát xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách bài hát, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[8]
CanadaCanada
[85]
Cộng hòa IrelandIreland
[20]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[187]
New Zealand
New Zealand
[22]
ScotlandScotland
[188]
Thụy ĐiểnThụy
Điển

[25]
ÚcÚc
[189]
"I'm Only Me When I'm with You" 2007 [cx]
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
Taylor Swift
"Invisible" [cz]
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Umbrella" 2008 [da] iTunes Live from SoHo
"Hey Stephen" 94
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
Fearless
"Breathe"
(hợp tác với Colbie Caillat)
87
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Tell Me Why" [db]
"The Way I Loved You" 72
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Forever & Always" 34 37
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"The Best Day" [dd]
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Jump Then Fall" 2009 10 14 98
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Untouchable" 19 23
"Come in with the Rain" 30 40
"SuperStar" 26 35
"The Other Side of the Door" 22 30
"Breathless" 2010 72 49 116 Hope for Haiti Now
"Dear John" 54 68 Speak Now
"Never Grow Up" 84
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Enchanted" 75 95
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Better Than Revenge" 56 73
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Haunted" 63 61
"Last Kiss" 71 99
"Innocent" 27 53
"Long Live" 85
"Drops of Jupiter" (Live) 2011 [de] Speak Now World Tour – Live
"I Almost Do" 2012 65 50 Red
"Stay Stay Stay" 91 70
"Treacherous" [df] 65
"All Too Well" 80 59
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"Starlight" [dg] 80
"Holy Ground" [dh] 89
"The Lucky One" [di] 88
"Sad Beautiful Tragic" [dj] 92
"All You Had to Do Was Stay" 2014 [dk] 92 99
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
1989
"How You Get the Girl" [dl] 81
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"I Know Places"
  • Mỹ: Vàng Vàng[7]
"This Love" [dm] 84
  • Mỹ:  Bạch kim[7]
"I Did Something Bad" 2017 [dn] [do] Reputation
"I Forgot That You Existed" 2019 28 29 [dp] 71 50 24 Lover
"Cruel Summer" 29 28 20 27 20 70 [dq] 22
"The Man" 23 21 16 21 15 82 63 17
"I Think He Knows" 51 48 34
"Miss Americana & the Heartbreak Prince" 49 47 92 32
"Paper Rings" 45 40 [dr] 96 29
"Cornelia Street" 57 51 40
"Death by a Thousand Cuts" 67 64 48
"London Boy" 62 54 42
"Soon You'll Get Better"
(hợp tác với Dixie Chicks)
63 71 97 54
"False God" 77 77 59
"Afterglow" 75 72 57
"It's Nice to Have a Friend" 92 97 72
"Daylight" 89 87 70
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Số liệu của Taylor Swift tính đến tháng 3 năm 2011[27]
  2. ^ a ă â b c d Số liệu của các album và EP tại Mỹ tính đến tháng 7 năm 2019.[5]
  3. ^ Số liệu của Fearless trên toàn cầu tính đến năm 2009.[31]
  4. ^ Số liệu của Fearless tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  5. ^ Số liệu của Fearless tại Úc tính đến tháng 12 năm 2017.[31]
  6. ^ Số liệu của Speak Now trên toàn cầu tính đến tháng 9 năm 2011.[38]
  7. ^ Số liệu của Speak Now tại Canada tính đến tháng 11 năm 2010.[39]
  8. ^ Số liệu của Speak Now tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 1 năm 2015.[40]
  9. ^ Số liệu của Red trên toàn cầu tính đến tháng 5 năm 2013.[44]
  10. ^ Số liệu của Red tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  11. ^ Số liệu của Red tại Nhật Bản tính đến tháng 12 năm 2013.[45]
  12. ^ Số liệu của 1989 trên toàn cầu tính đến năm 2016. Theo Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế, 1989 đã bán 6.0 triệu bản năm 2014,[52] 3,5 triệu bản năm 2015[53] và 0,6 triệu bản năm 2016,[54] tổng cộng là 10,1 triệu bản.
  13. ^ Số liệu của 1989 tại Canada tính đến tháng 11 năm 2017.[55]
  14. ^ Số liệu của 1989 tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  15. ^ Số liệu của 1989 tại Nhật Bản tính đến tháng 4 năm 2015.[56]
  16. ^ Số liệu của 1989 tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2017.[57]
  17. ^ Số liệu của Reputation trên toàn cầu tính đến tháng 4 năm 2018.[62]
  18. ^ Số liệu của Reputation tại Canada tính đến tháng 11 năm 2017.[63]
  19. ^ Số liệu của Reputation tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  20. ^ Số liệu của Reputation tại Nhật Bản tính đến tháng 11 năm 2017.[64]
  21. ^ Số liệu của Reputation tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2017.[57]
  22. ^ Số liệu của Reputation tại Úc tính đến tháng 11 năm 2017.[65]
  23. ^ Số liệu của Lover tại Mỹ tính đến tháng 12 năm 2019[69]
  24. ^ Số liệu của Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017. [4]
  25. ^ Số liệu của Beautiful Eyes tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  26. ^ Số liệu của "Tim McGraw" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  27. ^ Số liệu của "Teardrops on My Guitar" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  28. ^ Số liệu của "Our Song" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  29. ^ Số liệu của "Picture to Burn" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  30. ^ Số liệu của "Should've Said No" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  31. ^ Số liệu của "Love Story" trên toàn cầu tính đến tháng 11 năm 2017.[31]
  32. ^ Số liệu của "Love Story" tại Mỹ tính đến tháng 12 năm 2017.[31]
  33. ^ Số liệu của "Love Story" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 10 năm 2014.[90]
  34. ^ Số liệu của "White Horse" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  35. ^ Số liệu của "You Belong with Me" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  36. ^ Số liệu của "Fifteen" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  37. ^ Số liệu của "Fearless" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  38. ^ Số liệu của "Today Was a Fairytale" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  39. ^ Số liệu của "Mine" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  40. ^ Số liệu của "Back to December" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  41. ^ Số liệu của "Mean" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  42. ^ Số liệu của "Sparks Fly" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  43. ^ Số liệu của "Ours" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  44. ^ Số liệu của "Safe & Sound" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  45. ^ Phiên bản đĩa đơn của "Long Live" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, phiên bản album đạt hạng 86 trên Billboard Hot 100 dựa theo lượng tải nhạc số.[98]
  46. ^ Số liệu của "Eyes Open" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  47. ^ Số liệu của "We Are Never Ever Getting Back Together" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  48. ^ Số liệu của "We Are Never Ever Getting Back Together" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  49. ^ Số liệu của "Ronan" tại Mỹ tính đến tháng 9 năm 2012.[106]
  50. ^ Số liệu của "Begin Again" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  51. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  52. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 12 năm 2014.[107]
  53. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2013.[108]
  54. ^ Số liệu của "22" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  55. ^ Số liệu của "Highway Don't Care" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  56. ^ Số liệu của "Red" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  57. ^ Số liệu của "Everything Has Changed" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  58. ^ Số liệu của "Sweeter than Fiction" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2013.[117]
  59. ^ "The Last Time" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  60. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  61. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Canada tính đến tháng 1 năm 2015.[118]
  62. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  63. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Pháp tính đến hết năm 2014[119] và 2015.[120]
  64. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  65. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 11 năm 2015.[126]
  66. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Pháp tính đến hết năm 2015.[120]
  67. ^ Số liệu của "Style" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  68. ^ Số liệu của "Style" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  69. ^ Số liệu của "Bad Blood" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  70. ^ Số liệu của "Wildest Dreams" tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  71. ^ Số liệu của "Out of the Woods" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2014.[134]
  72. ^ Số liệu của "Out of the Woods" tại Canada tính đến tháng 10 năm 2014.[135]
  73. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  74. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  75. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Pháp tính đến hết năm 2017.[138]
  76. ^ Số liệu của "Look What You Made Me Do" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[145]
  77. ^ Số liệu của "Look What You Made Me Do" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[32]
  78. ^ Số liệu của "...Ready for It?" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[145]
  79. ^ "End Game" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 2 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[150]
  80. ^ "New Year's Day" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 33 trên Hot Country Songs.[152]
  81. ^ "Gorgeous" chỉ được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Vương quốc Liên hiệp Anh.[153]
  82. ^ Số liệu của "Gorgeous" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[154]
  83. ^ "Getaway Car" chỉ được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Úc và New Zealand.[156]
  84. ^ "Getaway Car" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 9 trên NZ Hot Singles Chart.[157]
  85. ^ "Getaway Car" không xếp hạng trên ARIA Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 33 trên ARIA Digital Tracks Chart.[158]
  86. ^ Số liệu của "Me!" tại Mỹ tính đến tháng 5 năm 2019.[160]
  87. ^ Số liệu của "Me!" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 5 năm 2019.[161]
  88. ^ "Beautiful Ghosts" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart nhưng đạt vị trí 36 trên NZ Hot Singles Chart.[166]
  89. ^ "Beautiful Ghosts" không xếp hạng trên ARIA Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 22 trên ARIA Digital Track Chart.[167]
  90. ^ "Christmas Tree Farm" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart nhưng đạt vị trí thứ 9 trên NZ Hot Singles Chart.[169]
  91. ^ Số liệu của "Two Is Better Than One" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  92. ^ Số liệu của "Both of Us" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  93. ^ "Babe" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 10 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[176]
  94. ^ Số liệu của "Babe" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2018.[177]
  95. ^ Số liệu của "You're Not Sorry" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[179]
  96. ^ Số liệu của "Crazier" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[4]
  97. ^ "American Girl" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  98. ^ Số liệu của "Speak Now" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2010.[180]
  99. ^ Số liệu của "Call It What You Want" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[181]
  100. ^ "The Archer" không xếp hạng trên Swedish Singellista Chart nhưng đạt vị trí thứ 6 trên Swedish Heatseeker Chart.[183]
  101. ^ "Only the Young" không lọt vào bảng xếp hạng NZ Hot Singles Chart, nhưng vươn tới vị trí cao nhất - số 2 tại NZ Hot Singles Chart.[185]
  102. ^ "I'm Only Me When I'm with You" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  103. ^ Số liệu của "I'm Only Me When I'm with You" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[179]
  104. ^ "Invisible" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles..[98]
  105. ^ "Umbrella" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  106. ^ "Tell Me Why" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 1 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  107. ^ Số liệu của "Forever & Always" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[179]
  108. ^ "The Best Day" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  109. ^ "Drop of Jupiter (Live)" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 7 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  110. ^ "Treacherous" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 2 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  111. ^ "Starlight" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 5 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  112. ^ "Holy Ground" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 12 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  113. ^ "The Lucky One" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 13 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  114. ^ "Sad Beautiful Tragic" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 18 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  115. ^ "All You Had to Do Was Stay" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 14 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  116. ^ "How You Get the Girl" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  117. ^ "This Love" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 19 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  118. ^ "I Did Something Bad" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 14 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[98]
  119. ^ "I Did Something Bad" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart nhưng đạt vị trí thứ 5 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[150]
  120. ^ "I Forgot That You Existed" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart nhưng đạt vị trí thứ 3 trên NZ Hot Singles Chart.[190]
  121. ^ "Cruel Summer" không xếp hạng trên Swedish Singellista Chart nhưng đạt vị trí thứ 10 trên Swedish Heatseeker Chart.[191]
  122. ^ "Paper Rings" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart nhưng đạt vị trí thứ 4 trên NZ Hot Singles Chart.[190]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “10 Life mantras by Taylor Swift to live by”. India Today. 13 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập 7 tháng 2 năm 2019. 
  2. ^ “Top Artists (Digital Singles)”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 1 năm 2016. Truy cập 1 tháng 2 năm 2016. 
  3. ^ Caulfield, Keith (ngày 20 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift's 'Reputation' Debuts at No. 1 on Billboard 200 Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad Trust, Gary (ngày 26 tháng 11 năm 2017). “Ask Billboard: Taylor Swift's Career Album & Song Sales”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập 27 tháng 11 năm 2017. 
  5. ^ a ă Trust, Gary (14 tháng 7 năm 2019). “Ask Billboard: Taylor Swift's Career Sales & Streaming Totals, From 'Tim McGraw' to 'You Need to Calm Down'. Billboard. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập 14 tháng 7 năm 2019. 
  6. ^ Trust, Gary (29 tháng 10 năm 2009). “Chart Beat Thursday: Taylor Swift, Tim McGraw Linked Again”. Billboard. Truy cập 11 tháng 3 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap aq ar as at au av ax ay ăa ăă ăâ ăb ăc ăd ăđ ăe ăê ăg ăh “American certifications – Taylor Swift” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 11 tháng 12 năm 2017. 
  8. ^ a ă â b c d “Taylor Swift – Chart History: Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập 22 tháng 11 năm 2019. 
  9. ^ a ă â “Taylor Swift – Chart History: Billboard 200”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập 22 tháng 11 năm 2019. 
  10. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Edges Susan Boyle For 2009's Top-Selling Album”. Billboard. Truy cập 5 tháng 11 năm 2019. 
  11. ^ Pietroluongo, Silvio (12 tháng 11 năm 2009). “Rihanna's 'Roulette' Lands In Hot 100's Top 10”. Billboard. Truy cập 3 tháng 1 năm 2019. 
  12. ^ Pietroluongo, Silvio (27 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Swipes Female Download Record; Haiti Tracks Chart”. Billboard. Truy cập 30 tháng 1 năm 2019. 
  13. ^ Apodaca, Joseph. “Billboard names Taylor Swift 2014's No. 1 music Money Maker — see who made the top 10”. KABC-TV. Truy cập 19 tháng 6 năm 2017. 
  14. ^ Keith Caulfield (4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập 4 tháng 11 năm 2019. 
  15. ^ Trust, Gary (27 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Debuts At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Truy cập 27 tháng 10 năm 2019. 
  16. ^ Trust, Gary (12 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift Tallies 70th Hot 100 Hit, Tying Nicki Minaj for Second-Most Among Women”. Billboard. Truy cập 19 tháng 12 năm 2019. 
  17. ^ Sutherland, Mark (ngày 2 tháng 9 năm 2019). “Why Taylor Swift's new album shows the benefits of artists being in control”. Music Week. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2019. 
  18. ^ “Taylor Swift – Chart History: Canadian Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017. 
  19. ^ “charts.de: Taylor Swift” (bằng tiếng Đức). charts.de. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập 23 tháng 6 năm 2019. 
  20. ^ a ă â b c “Discography Taylor Swift”. Irish Charts. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập 2 tháng 11 năm 2019. 
  21. ^ a ă â b “Taylor Swift”. Official Charts Company. Bản gốc (select "Albums" or "Singles") lưu trữ 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập 20 tháng 6 năm 2016. 
  22. ^ a ă â b c “Discography Taylor Swift”. New Zealand Charts. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập 2 tháng 1 năm 2019. 
  23. ^ a ă テイラー・スウィフト (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 9 năm 2013. Truy cập 8 tháng 9 năm 2019. 
  24. ^ a ă â “Discographie Taylor Swift” (bằng tiếng Pháp). lescharts.com. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 3 năm 2019. Truy cập 20 tháng 6 năm 2016. 
  25. ^ a ă â Thứ hạng cao nhất tại Thụy Điển:
  26. ^ “Discography Taylor Swift”. ARIA Charts. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 2 năm 2012. Truy cập 2 tháng 1 năm 2019. 
  27. ^ “Taylor Swift’s Worldwide Album Sales Top 20 Million”. CMT. 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập 1 tháng 5 năm 2019. 
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa “Canada certifications – Taylor Swift”. Music Canada. Truy cập 11 tháng 7 năm 2019. 
  29. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v “Britain certifications – Taylor Swift” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập 10 tháng 8 năm 2019.  Nhập Taylor Swift vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  30. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2 năm 2014. Truy cập 5 tháng 11 năm 2017. 
  31. ^ a ă â b “Nine years on, Taylor Swift’s ’Fearless’ is certified Diamond for U.S. sales of 10 million”. The Music Network. 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập 1 tháng 5 năm 2019. 
  32. ^ a ă â b c d đ e ê Copsey, Rob (26 tháng 4 năm 2019). “Taylor Swift's Official Top 20 biggest singles in the UK revealed”. Official Charts Company. Truy cập 26 tháng 4 năm 2019. 
  33. ^ a ă â “Gold-/Platin-Datenbank (Taylor Swift)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập 3 tháng 12 năm 2018. 
  34. ^ “2009 Certification Awards – Multi Platinum”. Hiệp hội thu âm nhạc Ireland. Truy cập 28 tháng 11 năm 2019. 
  35. ^ a ă “Latest Gold / Platinum Albums”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập 5 tháng 10 năm 2012. 
  36. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2010年2月 (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập 8 tháng 9 năm 2019. 
  37. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập 29 tháng 12 năm 2015. 
  38. ^ Wyland, Sarah (20 tháng 9 năm 2011). “Taylor Swift Celebrates Nashville Homecoming”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 11 năm 2015. Truy cập 23 tháng 9 năm 2011. 
  39. ^ Williams, John (3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift shakes up charts”. JAM! Music (Canoe.ca). Truy cập 17 tháng 4 năm 2019. 
  40. ^ Jones, Alan (19 tháng 1 năm 2015). “Official Charts Analysis: Uptown Funk holds on to No.1 for fifth week with sales of 125,948”. Music Week. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập 9 tháng 11 năm 2019. 
  41. ^ “2010 Certification Awards – Gold”. Hiệp hội Thu âm Nhạc Ireland. Truy cập 28 tháng 11 năm 2010. 
  42. ^ “ゴールドディスク認定作品一覧 2010年12月” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  43. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 19 tháng 1 năm 2019. 
  44. ^ Adams, Cameron (8 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift to play stadiums on Australian Red tour”. The Advertiser. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập 9 tháng 5 năm 2019. 
  45. ^ Doanh số album Red tại Nhật bản:
  46. ^ “2012 Certification Awards – Platinum”. Hiệp hội Thu âm Nhạc Ireland. Truy cập 28 tháng 11 năm 2019. 
  47. ^ “NZ Top 40 Albums Chart – ngày 29 tháng 10 năm 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập 5 tháng 11 năm 2019. 
  48. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2013年4月 (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập 8 tháng 9 năm 2019. 
  49. ^ a ă “Albums – Taylor Swift” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập 27 tháng 9 năm 2019. 
  50. ^ “Taylor Swift Red” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập 4 tháng 7 năm 2019. 
  51. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2014 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập 21 tháng 1 năm 2019. 
  52. ^ “IFPI Digital Music Report 2015” (PDF). Truy cập 6 tháng 10 năm 2019. 
  53. ^ “IFPI Global Music Report 2016” (PDF). Truy cập 6 tháng 10 năm 2019. 
  54. ^ “ANUARIO SGAE DE LAS ARTES ESCÉNICAS, MUSICALES Y AUDIOVISUALES 2017 - MÚSICA GRABADA” (PDF) (bằng tiếng spanish). Truy cập 6 tháng 10 năm 2019. 
  55. ^ Farrell, David (13 tháng 11 năm 2017). “First Day Sales For Swift's 'Reputation' Through The Roof”. FYI Music. Truy cập 14 tháng 11 năm 2019. 
  56. ^ Doanh số của album 1989 tại Nhật bản:
  57. ^ a ă Ruelle, Yohann (22 tháng 12 năm 2017). “The 2017 albums: Taylor Swift builds his own 'Reputation' (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Truy cập 17 tháng 4 năm 2019. 
  58. ^ “New Zealand album certifications”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015. 
  59. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2015年3月 (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập 13 tháng 4 năm 2019. 
  60. ^ a ă “Sveriges Officiella Topplista” (To access, enter the search parameter "Taylor Swift" and select "Search by Keyword") (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập 2 tháng 9 năm 2019. 
  61. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2019 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 20 tháng 8 năm 2019. 
  62. ^ “IFPI Global Music Report 2018” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. tr. 9. Bản gốc (PDF) lưu trữ 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập 25 tháng 4 năm 2018. 
  63. ^ “Taylor Swift's 'Reputation' Is Now A Platinum Album”. FYIMusicNews. 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập 20 tháng 11 năm 2017. 
  64. ^ Jones, Alan (ngày 17 tháng 11 năm 2017). “International Charts Analysis: Taylor Swift dominates around the globe”. Music Week. Truy cập 8 tháng 5 năm 2019. 
  65. ^ Cashmere, Paul (20 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Album Comes In Third Biggest Debut Behind Ed Sheeran and Pink”. Noise11. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017. 
  66. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Reputation”. Recorded Music NZ. Truy cập 26 tháng 10 năm 2018. 
  67. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2018年3月 (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập 10 tháng 5 năm 2018. 
  68. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2019 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 26 tháng 8 năm 2019. 
  69. ^ Caulfield, Keith (22 tháng 12 năm 2019). “Harry Styles' 'Fine Line' Album Earns Huge No. 1 Debut on Billboard 200 Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 12 năm 2019. Truy cập 22 tháng 12 năm 2019. 
  70. ^ Copsey, Rob (30 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift scores fourth UK Number 1 album with Lover”. Official Charts Company. Truy cập 31 tháng 8 năm 2019. 
  71. ^ 月間 アルバムランキング: 2019年08月度 [Monthly CD Album Ranking for August 2019] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 9 năm 2019. Truy cập 25 tháng 9 năm 2019. 
  72. ^ “Top Albums: Vitaa et Slimane au sommet, Lorenzo brille, Elsa Esnoult devant Taylor Swift”. chartsinfrance.net. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019. 
  73. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Lover”. Recorded Music NZ. Truy cập 21 tháng 9 năm 2019. 
  74. ^ “ARIA Australian Top 50 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập 2 tháng 11 năm 2019. 
  75. ^ Caulfield, Keith (2 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Achieves Seventh No. 1 Album on Billboard 200 Chart & Biggest Week of 2020 With 'Folklore'. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020. 
  76. ^ “HITS Daily Double”. HITS Daily Double (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020. 
  77. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Folklore”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2020. 
  78. ^ “Rhapsody Originals”. Rhapsody. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập 31 tháng 1 năm 2018. 
  79. ^ “iTunes Live from SoHo by Taylor Swift”. iTunes Store. Truy cập 2 tháng 1 năm 2019. 
  80. ^ “Live from SoHo”. Taylor Swift's official website. Truy cập 19 tháng 5 năm 2015. 
  81. ^ “Taylor Swift Records "Delicate" and Earth, Wind & Fire's "September" for Spotify Singles”. Spotify. 13 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập 24 tháng 4 năm 2018. 
  82. ^ Park, Andrea (13 tháng 4 năm 2018). “Taylor Swift drops two new songs on Spotify Singles”. CBS. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập 24 tháng 4 năm 2018. 
  83. ^ “Reputation Stadium Tour Surprise song playlist”. AllMusic. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2019. 
  84. ^ “Taylor Swift publica playlist especial como despedida da turnê”. portalpopline. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2019. 
  85. ^ a ă â b “Taylor Swift – Chart History: Billboard Canadian Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập 22 tháng 11 năm 2019. 
  86. ^ a ă “Discography Taylor Swift”. Danish Charts. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập 21 tháng 10 năm 2019. 
  87. ^ a ă Thứ hạng bài hát cao nhất tại Nhật Bản:
  88. ^ “swedishcharts.com - Discography Taylor Swift”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. 
  89. ^ a ă â Thứ hạng đĩa đơn cao nhất tại Úc:
  90. ^ Jones, Alan (27 tháng 10 năm 2014). “Official Charts Analysis: Trainor matches Clean Bandit for longest-running No.1 single of 2014”. Music Week (Intent Media). Truy cập 2 tháng 4 năm 2018. 
  91. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  92. ^ a ă â “Latest Gold / Platinum Singles”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  93. ^ a ă â b c “ARIA Charts – Accreditations – 2015 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2019. 
  94. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2014 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập 5 tháng 9 năm 2019. 
  95. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. RIAJ Digital Track Chart. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  96. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 5 tháng 11 năm 2019. 
  97. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. RIAJ Digital Track Chart. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  98. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Taylor Swift – Chart History: Bubbling Under Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  99. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 30 tháng 4 năm 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2019. 
  100. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2019. 
  101. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 7 tháng 1 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  102. ^ a ă “ja:レコード協会調べ 1月度有料音楽配信認定 <略称:1月度認定>” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập 22 tháng 3 năm 2019. 
  103. ^ “TAYLOR SWIFT We Are Never Ever Getting Back Together” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  104. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 16 tháng 2 năm 2019. 
  105. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – We Are Never Ever Getting Back Together” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập 3 tháng 2 năm 2019. 
  106. ^ Trust, Gary (ngày 12 tháng 9 năm 2012). “Taylor Swift's 'Never' Is Hot 100's Longest-Leading Country Song Since 1980”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019. 
  107. ^ Jones, Alan (28 tháng 12 năm 2014). “Official Charts Analysis: Sheeran's x scores 12th week at No.1 with sales of 211,168”. Music Week. Intent Media. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập 2 tháng 4 năm 2019. 
  108. ^ “The most sold Singles in 2013”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập 18 tháng 4 năm 2019. 
  109. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2019. 
  110. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Taylor Swift; 'I Knew You Were Trouble')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  111. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 21 tháng 1 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2019. 
  112. ^ “TAYLOR SWIFT I Knew You Were Trouble” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019. 
  113. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2019. 
  114. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 22 tháng 4 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019. 
  115. ^ “American certifications – McGraw, Tim”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019. 
  116. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 22 tháng 9 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019. 
  117. ^ Trust, Gary (1 tháng 1 năm 2013). “Chart Moves: Taylor Swift Makes 'Sweet' Start, Tyga Teams With Justin Bieber on Hot 100”. Billboard. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  118. ^ Bliss, Karen (27 tháng 11 năm 2015). “Nielsen: Canada Loved Taylor Swift, Streaming Music and, Yep, Vinyl in 2014”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập 17 tháng 4 năm 2019. 
  119. ^ “The most sold Songs in 2014”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ 24 tháng 8 năm 2018. 
  120. ^ a ă “The most sold Songs in 2015”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ 18 tháng 4 năm 2019. 
  121. ^ “Certificeringer - Taylor Swift - Shake It Off”. IFPI Denmark. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2014. 
  122. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 9 tháng 2 năm 2015”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019. 
  123. ^ “Gold Disc 2015年10月度” (Bulletin) (bằng tiếng Nhật) 673. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. 20 tháng 11 năm 2015. tr. 14. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập 11 tháng 12 năm 2019. 
  124. ^ “Taylor Swift — Shake It Off” (bằng tiếng Thụy Điển). Grammofon Leverantörernas Förening. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2019. 
  125. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Shake it off” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập 3 tháng 2 năm 2019. 
  126. ^ Myers, Justin (7 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift's 1989 one year on”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập 2 tháng 4 năm 2018. 
  127. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 22 tháng 12 năm 2014”. Recorded Music NZ. Truy cập 19 tháng 12 năm 2014. 
  128. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Blank Space” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập 25 tháng 2 năm 2019. 
  129. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Style”. Recorded Music NZ. Truy cập 6 tháng 3 năm 2015. 
  130. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift feat. Kendrick Lamar – Bad Blood”. Recorded Music NZ. Truy cập 12 tháng 7 năm 2015. 
  131. ^ Ryan, Gavin (5 tháng 12 năm 2015). “ARIA Singles: Adele 'Hello' Spends Sixth Week at No 1”. Noise11. Truy cập 5 tháng 12 năm 2019. 
  132. ^ “New Zealand single certifications”. Recorded Music NZ. Truy cập 2 tháng 10 năm 2019. 
  133. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. 30 tháng 11 năm 2015. Truy cập 28 tháng 11 năm 2019. 
  134. ^ Paul Grein (23 tháng 10 năm 2014). “Chart Watch: Women Overpower Men, Week 7”. Yahoo!. Truy cập 23 tháng 10 năm 2019. 
  135. ^ “A Journal of Musical ThingsWeekly Music Sales Report and Analysis: ngày 22 tháng 10 năm 2014”. A Journal of Musical Things. 
  136. ^ Ryan, Gavin (16 tháng 1 năm 2016). “ARIA Singles: Justin Bieber 'Love Yourself' Spends 6th Week at No 1”. Noise11. Truy cập 16 tháng 1 năm 2019. 
  137. ^ Ryan, Gavin (23 tháng 4 năm 2016). “ARIA Singles: Gnash 'I Hate U, I Love U' Spends Second Week at No 1”. Noise11. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  138. ^ “The most sold Songs in 2017”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ 18 tháng 4 năm 2019. 
  139. ^ “Zayn & Taylor Swift "I Don't Wanna Love Forever". IFPI Denmark. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập 18 tháng 4 năm 2019. 
  140. ^ “New Zealand single certifications – Zayn and Taylor Swift – I Don't Wanna Live Forever”. Recorded Music NZ. Truy cập 3 tháng 3 năm 2017. 
  141. ^ a ă “Notre Base de Données: Taylor Swift” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập 5 tháng 5 năm 2019. 
  142. ^ a ă â “Sverigetopplistan” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Bản gốc (To access, enter the search parameter "Taylor Swift" and select "Search by Keyword") lưu trữ 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập 13 tháng 1 năm 2018. 
  143. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. 27 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập 25 tháng 2 năm 2017. 
  144. ^ “Italian single certifications – Zayn & Taylor Swift – I don't wanna live forever” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập 3 tháng 2 năm 2019. 
  145. ^ a ă “Billboard Digital Songs Chart Week Ending ngày 5 tháng 10 năm 2017” (PDF). Nielsen SoundScan. 9 tháng 10 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập 10 tháng 4 năm 2019. 
  146. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Look What You Made Me Do”. Recorded Music NZ. Truy cập 22 tháng 2 năm 2017. 
  147. ^ a ă â b c d đ e ê “ARIA Charts – Accreditations – 2019 Singles”. Hiệp hội CÔng nghiệp Ghi âm Úc. 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập 16 tháng 8 năm 2019. 
  148. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Look What You Made Me Do” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập 3 tháng 2 năm 2019. 
  149. ^ “Taylor Swift propose « End Game » aux radios françaises, un titre partagé avec Ed Sheeran et Future”. Aficia. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập 17 tháng 11 năm 2017. 
  150. ^ a ă “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 11 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập 8 tháng 12 năm 2017. 
  151. ^ Trust, Gary; Asker, Jim (14 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift's 'New Year's Day' Goes to Country Radio: Is Country Ready for It?”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập 12 tháng 3 năm 2018. 
  152. ^ “Taylor Swift Chart History: Hot Country Songs”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập 13 tháng 1 năm 2018. 
  153. ^ “BBC – Radio 1 – Playlist”. BBC Radio 1. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập 12 tháng 3 năm 2018. 
  154. ^ Trust, Gary (30 tháng 10 năm 2017). “Taylor Swift Ties Rihanna for Most Digital Song Sales No. 1s With Debut of 'Gorgeous'. Billboard. Truy cập 17 tháng 4 năm 2019. 
  155. ^ “American certifications – Taylor Swift – Delicate” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 23 tháng 7 năm 2018. 
  156. ^ “Uncharted: Taylor Swift prepares for Aus tour with next radio single”. The Music Network. 10 tháng 9 năm 2018. Truy cập 6 tháng 5 năm 2019. 
  157. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. Ngày 24 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập 21 tháng 9 năm 2018. 
  158. ^ “ARIA Australian Top 40 Digital Tracks” (PDF). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập 20 tháng 10 năm 2018. 
  159. ^ “Taylor Swift 'Road to Reputation' Screening”. auspOp. 27 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập 29 tháng 9 năm 2018. 
  160. ^ Sisario, Ben (ngày 7 tháng 5 năm 2019). “Taylor Swift’s ‘Me!’ Is Thwarted by a Fifth No. 1 for ‘Old Town Road’”. nytimes. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019. 
  161. ^ Snapes, Laura (ngày 3 tháng 5 năm 2019). “Stormzy soars past Taylor Swift to score first UK No 1 single”. The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  162. ^ a ă “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Me! & You Need to Calm Down”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2019. 
  163. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Australian Recording Industry Association. Ngày 10 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2019. 
  164. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Lover”. Recorded Music NZ. Truy cập 16 tháng 11 năm 2019. 
  165. ^ Aniftos, Rania (ngày 15 tháng 11 năm 2019). “Taylor Swift Releases 'Beautiful Ghosts,' Co-Written With Andrew Lloyd Webber for 'Cats' Film”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019. 
  166. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 25 tháng 11 năm 2019. Truy cập 23 tháng 11 năm 2019. 
  167. ^ “ARIA Australian Top 40 Digital Tracks” (PDF). Australian Recording Industry Association. 25 tháng 11 năm 2019. Truy cập 23 tháng 11 năm 2019. 
  168. ^ “IRMA – Irish Charts”. Irish Recorded Music Association. Truy cập 17 tháng 9 năm 2019. 
  169. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 16 tháng 12 năm 2019. Truy cập 14 tháng 12 năm 2019. 
  170. ^ “Taylor Swift’s New Single "The Man" Set To Impact Pop Radio On January 28”. Headline Planet (bằng tiếng en-US). Ngày 24 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020. 
  171. ^ “American single certifications – Boys Like Girls – Two Is Better Than One” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 6 tháng 12 năm 2019.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  172. ^ “American single certifications – John Mayer – Half of My Heart” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 6 tháng 10 năm 2019.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  173. ^ “American single certifications – B.o.B – Both of Us” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 22 tháng 4 năm 2016.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  174. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 6 tháng 8 năm 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập 5 tháng 10 năm 2012. 
  175. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. Truy cập 17 tháng 12 năm 2019. 
  176. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 30 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 4 năm 2018. Truy cập 27 tháng 4 năm 2018. 
  177. ^ Bjorke, Matt (13 tháng 12 năm 2018). “Top 30 Digital Country Singles Chart: ngày 13 tháng 11 năm 2018”. RoughStock. Truy cập 28 tháng 11 năm 2018. 
  178. ^ “I Heart ? – Taylor Swift | Release Information, Reviews and Credits”. AllMusic. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  179. ^ a ă â “Ask Billboard: Taylor Swift's Career Sales”. Billboard. Ngày 25 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  180. ^ Caulfield, Keith; Pietroluongo, Silvio (ngày 14 tháng 10 năm 2010). “Chart Moves: 'Glee,' Mavis Staples, Stephen Colbert, 'Social Network,' Pink”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010. 
  181. ^ Trust, Gary (13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Notches Fourth Digital Song Sales No. 1 From 'Reputation' With 'Call It What You Want'. Billboard. Truy cập 17 tháng 4 năm 2019. 
  182. ^ “Spotify Singles – Taylor Swift”. Spotify. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 4 năm 2018. Truy cập 12 tháng 4 năm 2018. 
  183. ^ “Veckolista Heatseeker, vecka 31”. Sverigetopplistan. Truy cập 3 tháng 8 năm 2019. 
  184. ^ “Official Irish Singles Chart Top 50”. Official Charts Company. 7 tháng 2 năm 2020. Truy cập 8 tháng 2 năm 2020. 
  185. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 10 tháng 2 năm 2020. Truy cập 8 tháng 2 năm 2020. 
  186. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Hiệp hội CÔng nghiệp Ghi âm Úc. 10 tháng 2 năm 2020. Truy cập 8 tháng 2 năm 2020. 
  187. ^ Vị trí bài hát cao nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh:
  188. ^ “Official Scottish Singles Sales Chart Top 100: ngày 30 tháng 8 năm 2019 – ngày 5 tháng 9 năm 2019”. Official Charts Company. Truy cập 31 tháng 8 năm 2019. 
  189. ^ Peak positions for other charted songs in Australia:
  190. ^ a ă “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. Ngày 2 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  191. ^ “Veckolista Heatseeker, vecka 35”. Sverigetopplistan. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]