Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Taylor Swift
Taylor Swift Reputation Tour31.jpg
Swift biểu diễn trong Taylor Swift's Reputation Stadium Tour năm 2018
Album phòng thu6
Album trực tiếp4
Album video4
EP2
Đĩa đơn50
Đĩa đơn quảng bá17

Ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift khởi nghiệp bằng hợp đồng thu âm với Big Machine Records năm 2005 và phát hành album phòng thu đầu tay cùng tên vào năm kế tiếp. Tại Mỹ, Taylor Swift đạt vị trí thứ năm và là tác phẩm trụ hạng lâu nhất trên bảng xếp hạng Billboard 200 trong thập niên 2000.[1] Toàn bộ các đĩa đơn—"Tim McGraw", "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No"—đều nằm trong top 40 tại quốc gia này và đạt chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA).[2][3] Swift tiếp tục phát hành hai đĩa mở rộng là Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection (2007) và Beautiful Eyes (2008), đạt vị trí lần lượt là 20 và 9 trên bảng xếp hạng Billboard 200.[4]

Swift phát hành album phòng thu thứ hai, Fearless (2008) dẫn đầu các bảng xếp hạng ở Hoa Kỳ, Canada và New Zealand, trở thành album bán chạy nhất Hoa Kỳ năm 2009[5] và tất cả 13 bài hát trong album đều xếp hạng trên Billboard Hot 100, phá kỷ lục về số bài hát lọt vào top 40 bảng xếp hạng này trong cùng một album.[6] Bài hát "Love Story", "You Belong with Me" và "Fearless" vươn đến top 10 tại Mỹ, trong khi "Love Story" là đĩa đơn quán quân đầu tiên của cô ở Úc. Thành tích tương tự diễn ra ở Canada với đĩa đơn "Today Was a Fairytale", trích từ album nhạc phim Valentine's Day (2010).[7] Album phòng thu thứ ba của cô, Speak Now (2010) đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và xuất hiện trong top 10 ở nhiều quốc gia khác, bao gồm Úc, Canada và Vương quốc Liên hiệp Anh. Ba trong số các đĩa đơn—"Mine", "Back to December" và "Mean"—vươn đến top 10 tại Canada.[3]

Album phòng thu thứ tư, Red (2012) là tác phẩm quán quân đầu tiên của Swift tại Vương quốc Liên hiệp Anh và dẫn đầu ở Canada, Ireland, New Zealand và Hoa Kỳ. Album phát hành các đĩa đơn thành công "I Knew You Were Trouble" và "We Are Never Ever Getting Back Together", những quán quân đầu tiên của cô tại New Zealand và Hoa Kỳ.[8] Album phòng thu thứ năm mang tên 1989 (2014) đứng đầu Billboard 200, với doanh số 1.287 triệu bản trong tuần đầu tiên, trở thành album thứ ba của cô bán hơn 1 triệu bản chỉ trong tuần lên kệ.[9] Album còn dẫn đầu tại nhiều quốc gia như Úc, Canada và Vương quốc Liên hiệp Anh. Các đĩa đơn, "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" đều đứng đầu bảng xếp hạng ở Mỹ, Úc và Canada.[10] Bài hát Swift thu âm cùng Zayn cho album nhạc phim Fifty Shades Darker có tên "I Don't Wanna Live Forever" (2016) là đĩa đơn thứ 20 của Swift đạt tới top 10 tại Hoa Kỳ, giúp cô san bằng kỷ lục nữ nghệ sĩ có lượng đĩa đơn xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhiều thứ hai.[11] Album thứ sáu của cô, Reputation (2017) và đĩa đơn mở đường "Look What You Made Me Do" đạt vị trí quán quân tại Úc, Canada, Ireland, New Zealand, Liên hiệp Anh và Mỹ. Đĩa đơn kế tiếp "...Ready for It?" đạt top 10 tại Mỹ, Úc, Canada, và Liên hiệp Anh. Trong cùng khoảng thời gian, Swift đã phát hành một số đĩa đơn kết hợp với các nghệ sĩ khác. Swift ra mắt "Me!" dưới dạng đĩa đơn mở đường cho album thứ bảy sắp phát hành của cô (2019); bài hát đã đạt vị trí dẫn đầu tại Hungary, Scotland, Nicaragua; top 5 tại Liên hiệp Anh, Cộng hòa Séc, Ireland, New Zealand, Slovakia, Malaysia, bao gồm cả Mỹ, Canada, và Úc nơi mà bài hát lọt top á quân.

Theo RIAA, Swift là nghệ sĩ bán đĩa kỹ thuật số chạy thứ ba tại Hoa Kỳ, với khoảng 120 triệu lượt tải nhạc xuống và truyền dữ liệu theo yêu cầu.[12] Đồng thời lượng album được bán ra của cô tại đây được khoảng 31.4 triệu đơn vị.[13] Với ước tính hơn 50 triệu album và 150 triệu đĩa đơn kỹ thuật số trên toàn cầu, Swift là một trong những nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất mọi thời đại.[14]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album phòng thu, với vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Album Thông tin Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa KỳMỹ
[4]
ÚcÚc
[15]
CanadaCanada
[16]
PhápPháp
[17]
Đức
Đức
[18]
Cộng hòa Ireland
Ireland
[19]
Nhật Bản
Nhật Bản
[20]
New Zealand
New Zealand
[21]
Thụy Điển
Thụy Điển
[22]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
L.H.
Anh

[23]
Taylor Swift 5 33 14 53 38 81
Fearless
  • Phát hành: 11 tháng 11 năm 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kĩ thuật số
1 2 1 26 12 7 8 1 12 5
  • Thế giới: 12.000.000[c]
  • Mỹ: 7.123.100[d]
  • Úc: 500,000[e]
  • L.H.Anh: 603.000[f]
Speak Now
  • Phát hành: 25 tháng 10 năm 2010
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: LP, CD, tải kĩ thuật số
1 1 1 39 15 6 6 1 18 6
  • RIAA: 6× Bạch kim[2]
  • ARIA: 2× Bạch kim[40]
  • BPI: Vàng[27]
  • IRMA: Vàng[41]
  • MC: 3× Bạch kim[28]
  • RIAJ: Vàng[42]
  • RMNZ: Bạch kim[36]
Red
  • Phát hành: 22 tháng 10 năm 2012
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số
1 1 1 30 5 1 3 1 8 1
  • Thế giới: 6.000.000[k]
  • Mỹ: 4.400.000[l]
  • Nhật Bản: 256.000[m]
  • L.H.Anh: 681.700[n]
  • RIAA: 7× Bạch kim[2]
  • ARIA: 4× Bạch kim[45]
  • BPI: 2x Bạch kim[27]
  • IFPI SWE: Vàng[46]
  • BVMI: Vàng[33]
  • IRMA: Bạch kim[47]
  • MC: 4× Bạch kim[28]
  • RIAJ: Bạch kim[48]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[49]
1989
  • Phát hành: 27 tháng 10 năm 2014
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số
1 1 1 9 4 1 3 1 23 1
  • Thế giới: 10.000.000[o]
  • Mỹ: 6.100.000[p]
  • Canada: 530.000[q]
  • Pháp: 70,000[r]
  • Nhật Bản: 268.200[s]
  • L.H.Anh: 1.240.000[t]
  • RIAA: 9× Bạch kim[2]
  • ARIA: Kim cương[56]
  • BPI: 4× Bạch kim[27]
  • BVMI: Bạch kim[33]
  • IFPI SWE: Vàng[57]
  • MC: 6× Bạch kim[28]
  • RIAJ: Bạch kim[58]
  • RMNZ: 3× Bạch kim[59]
Reputation
  • Phát hành: 10 tháng 11 năm 2017
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, LP, tải kỹ thuật số, cassette, streaming
1 1 1 11 2 1 3 1 2 1
  • Thế giới: 4.500.000[u]
  • Mỹ: 2.090.000[v]
  • Úc: 54,976[w]
  • Canada: 80,000[x]
  • Pháp: 13,000[y]
  • Nhật Bản: 28,281[z]
  • Anh: 363.000[aa]
  • RIAA: 3x Bạch kim
  • ARIA: 2× Bạch kim[65]
  • BPI: Bạch kim[27]
  • IFPI SWE: Vàng[57]
  • RIAJ: Vàng[66]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[67]
Lover Chưa phát hành
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album trực tiếp với ghi chú
Tựa đề Chi tiết Ghi chú
Rhapsody Originals
  • Phát hành: Tháng 11 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Tải kĩ thuật số
  • Album acoustic trực tiếp phát hành trên Rhapsody (ngày nay là Napster). Đĩa gồm những bài hát từ album Taylor Swift.[68]
iTunes Live from SoHo
  • Phát hành: 30 tháng 1 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Tải kĩ thuật số
  • Album trực tiếp bán độc quyền trên hệ thống iTunes Store. Album gồm những màn trình diễn trực tiếp từ album Taylor Swift và một phiên bản trình bày lại "Umbrella" của Rihanna.[69][70]
Speak Now World Tour – Live
  • Phát hành: 21 tháng 11 năm 2011
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: tải kỹ thuật số, CD, Blu-ray/DVD
Spotify Singles
  • Phát hành: 13 tháng 4 năm 2018
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Streaming

Album tuyển tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết Ghi chú
Reputation Stadium Tour Surprise Song Playlist
  • Phát hành: 30 tháng 11 năm 2018 (có nguồn cho rằng 'ngày phát hành chính thức' là ngày 7 tháng 11 năm 2018[73])
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: Streaming
  • Album tuyển tập, chỉ dưới dạng streaming, với một danh sách phát, bao gồm tất cả những bài hát được gọi là 'secret songs' ('bài hát bí mật') tại các show trong chuyến lưu diễn hòa nhạc Taylor Swift's Reputation Stadium Tour.[74]

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa mở rộng, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận và doanh số
Tựa đề Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa Kỳ
Mỹ
[4]
Nhật Bản
Nhật Bản
[20]
Sounds of the Season:
The Taylor Swift Holiday Collection
  • Phát hành: 14 tháng 10 năm 2007
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
20 76
  • RIAA: Bạch kim[2]
Beautiful Eyes
  • Phát hành: 15 tháng 7 năm 2008
  • Hãng đĩa: Big Machine
  • Định dạng: CD, tải kĩ thuật số
9

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Hát chính[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn hát chính, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ[3]
Úc Úc
[75]
Canada Canada
[76]
Đan Mạch Đan Mạch
[77]
Pháp Pháp
[17]
Cộng hòa Ireland Ireland
[19]
Nhật Bản Nhật Bản
[78]
New Zealand New Zealand
[21]
Thụy Điển Thụy Điển
[79]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H.
Anh

[23]
"Tim McGraw" 2006 40
  • RIAA: Bạch kim[2]
Taylor Swift
"Teardrops on My Guitar" 2007 13 45 51
  • RIAA: 3× Bạch kim[2]
  • MC: Bạch kim[28]
"Our Song" 16 30
  • RIAA: 4× Bạch kim[2]
  • MC: Bạch kim[28]
"Picture to Burn" 2008 28 48
  • RIAA: 2x Bạch kim[2]
  • MC: Vàng[28]
"Should've Said No" 33 67 18
  • RIAA: Bạch kim[2]
"Change" 10 AT&T Team USA Soundtrack
"Love Story" 4 1 4 16 14 3 3 3 10 2
  • Thế giới: 8.100.000[ai]
  • Mỹ: 6.100.000[aj]
  • L.H. Anh: 648.370[ak]
Fearless
"White Horse" 13 41 43 60
"You Belong with Me" 2009 2 5 3 32 12 10 5 47 30
  • RIAA: 7× Bạch kim[2]
  • ARIA: 4× Bạch kim[81]
  • BPI: Bạc[27]
  • MC: 2× Bạch kim[28]
  • RIAJ: Vàng[85]
  • RMNZ: Bạch kim[83]
Fearless
"Fifteen" 23 48 19
  • RIAA: 2x Bạch kim[2]
  • MC: Vàng[28]
"Fearless" 2010 9 69 111
  • RIAA: Bạch kim[2]
"Today Was a Fairytale" 2 3 1 41 63 29 57
  • RIAA: Bạch kim[2]
  • ARIA: Bạch kim[86]
Valentine's Day
"Mine" 3 9 7 38 6 16 48 30 Speak Now
"Back to December" 6 26 7 24
  • RIAA: 2x Bạch kim[2]
  • MC: Vàng[28]
"Mean" 2011 11 45 10
"The Story of Us" 65 70
  • RIAA: Bạch kim[2]
"Sparks Fly" 17 97 28
  • RIAA: Bạch kim[2]
"Ours" 13 91 68 181
  • RIAA: Bạch kim[2]
"Safe & Sound"
(hợp tác với The Civil Wars)
30 38 31 11 67
  • RIAA: 2× Bạch kim[2]
  • ARIA: Bạch kim[84]
The Hunger Games
"Long Live"
(hợp tác với Paula Fernandes)
2012 85 [aw] Speak Now World Tour – Live
"Eyes Open" 19 47 17 65 6 70
  • RIAA: Bạch kim[2]
  • RMNZ: Vàng[89]
The Hunger Games
"We Are Never Ever Getting Back Together" 1 3 1 18 18 4 2 1 16 4
  • Mỹ: 4.100.000[ay]
  • L.H. Anh: 1.100.000[az]
  • RIAA: 6× Bạch kim[2]
  • ARIA: 5× Bạch kim[90]
  • BPI: Bạch kim[27]
  • FIMI: Vàng[91]
  • IFPI DEN: Bạch kim[92]
  • IFPI SWE: Bạch kim[93]
  • RIAJ: Triệu[94]
  • MC: Vàng[28]
  • RMNZ: 2× Bạch kim[95]
Red
"Ronan" 16 Không có
"Begin Again" 7 20 4 25 11 30 Red
"I Knew You Were Trouble" 2 3 2 3 14 4 51 3 37 2
"22" 2013 20 21 20 155 12 53 23 9
"Highway Don't Care"
(với Tim McGraw, hợp tác với Keith Urban)
22 73 21 Two Lanes of Freedom
"Red" 6 30 5 103 25 43 14 26
  • RIAA: Bạch kim[2]
  • ARIA: Vàng[84]
Red
"Everything Has Changed"
(hợp tác với Ed Sheeran)
32 28 28 5 22 7
  • RIAA: 2× Bạch kim[2]
  • ARIA: Bạch kim[90]
  • BPI: Bạch kim[27]
  • RMNZ: Vàng[106]
"Sweeter Than Fiction" 34 44 17 38 26 25 One Chance
"The Last Time"
(hợp tác với Gary Lightbody)
[bk] 73 15 25 Red
"Shake It Off" 2014 1 1 1 4 6 3 4 1 3 2
  • RIAA: 9× Bạch kim[2]
  • ARIA: 6× Bạch kim[81]
  • BPI: 2× Bạch kim[27]
  • FIMI: Bạch kim[111]
  • IFPI DEN: Vàng[112]
  • IFPI SWE: Bạch kim[113]
  • MC: 6× Bạch kim[28]
  • RIAJ: 3x Bạch kim[114]
  • RMNZ: 3× Bạch kim[115]
1989
"Blank Space" 1 1 1 27 4 45 2 4
  • RIAA: 8× Bạch kim[2]
  • ARIA: 5× Bạch kim[81]
  • BPI: Bạch kim[27]
  • FIMI: Bạch kim[117]
  • MC: 4× Bạch kim[28]
  • RMNZ: Bạch kim[118]
"Style" 2015 6 8 6 85 38 53 11 21
  • RIAA: 3× Bạch kim[2]
  • ARIA: 2× Bạch kim[81]
  • BPI: Vàng[27]
  • MC: 2× Bạch kim[28]
  • RMNZ: Vàng[119]
"Bad Blood"
(hợp tác với Kendrick Lamar)
1 1 1 14 8 20 1 4
"Wildest Dreams" 5 3 4 122 39 8 40
"Out of the Woods" 2016 18 19 8 23 70 6 136
"New Romantics" 46 35 58 190
"I Don't Wanna Live Forever"
(hợp tác với Zayn)
2 3 2 2 4 4 4 1 5 Fifty Shades Darker
"Look What You Made Me Do" 2017 1 1 1 12 4 1 7 1 7 1 Reputation
"...Ready for It?" 4 3 7 20 12 9 32 7
  • RIAA: 2× Bạch kim[2]
  • ARIA: 2× Bạch kim[136]
  • BPI: Bạc[27]
  • IFPI SWE: Vàng[132]
  • MC: 2× Bạch kim[28]
"End Game"
(hợp tác với Ed SheeranFuture)[139]
18 36 11 130 68 [ce] 49
  • RIAA: Bạch kim[2]
  • ARIA: Bạch kim[136]
  • MC: Bạch kim[28]
"New Year's Day"[141] [cf]
"Gorgeous"[cg] 2018 13 9 9 64 18 52 19 41 15
"Delicate" 12 28 20 169 31 33 98 45
"Getaway Car"[ci] [cj] [ck]
"Me!"
(hợp tác với Brendon Urie từ Panic! at the Disco)
2019 2 2 2 19 66 5 6 3 11 3 Lover
"You Need to Calm Down" 2 3 4 154 5 23 5 35 5
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn hợp tác, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[3]
Úc Úc
[75]
Canada Canada
[76]
Cộng hòa Ireland Ireland
[19]
New Zealand New Zealand
[21]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H.
Anh

[23]
"Two Is Better Than One"
(Boys Like Girls hợp tác với Taylor Swift)
2009 18 18 Love Drunk
"Half of My Heart"
(John Mayer hợp tác với Taylor Swift)
2010 25 71 53 Battle Studies
"Both of Us"
(B.o.B hợp tác với Taylor Swift)
2012 18 5 23 26 10 22 Strange Clouds
"Babe"
(Sugarland hợp tác với Taylor Swift)
2018 72 94 [cp] Bigger
"—" Đĩa đơn không phát hành hoặc không xếp hạng tại quốc gia đó.

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn quảng bá, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[3]
ÚcÚc
[75]
CanadaCanada
[76]
Đan Mạch Đan Mạch
[77]
Pháp Pháp
[17]
Cộng hòa IrelandIreland
[19]
Nhật BảnNhật Bản
[78]
New Zealand
New Zealand
[21]
Thụy Điển
Thụy
Điển

[22]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandL.H.
Anh

[23]
"I Heart ?"[160] 2008 Beautiful Eyes
"You're Not Sorry" 11 11
  • RIAA: Bạch kim[2]
Fearless
"Crazier" 2009 17 57 67 100
  • RIAA: Bạch kim[2]
Hannah Montana: The Movie
"American Girl" [ct] Không có
"Speak Now" 2011 8 20 8 34 Speak Now
"If This Was a Movie" 10 17 191
"Superman" 26 82
"State of Grace" 2012 13 44 9 43 20 36 Red
"The Moment I Knew" 64 58 197
"Come Back... Be Here" 64 188
"Girl at Home" 75
"Welcome to New York" 2014 48 23 19 27 85 55 80 6 39 1989
"Wonderland" 2015 51 84 59 171
"You Are in Love" 83 99
"Call It What You Want" 2017 27 16 24 76 44 34 29 Reputation
"Delicate"
(thu âm tại The Tracking Room Nashville)
2018 Spotify Singles[164]
"September"
(thu âm tại The Tracking Room Nashville)
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Bài hát xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách bài hát, với vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận, năm phát hành và tên album gốc
Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[3]
ÚcÚc
[165]
CanadaCanada
[76]
New Zealand
New Zealand
[166]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[167]
"I'm Only Me When I'm with You" 2007 [cw]
  • RIAA: Bạch kim[2]
Taylor Swift
"Invisible" [cy]
"Umbrella" 2008 [cz] iTunes Live from SoHo
"Hey Stephen" 94 Fearless
"Breathe"
(hợp tác với Colbie Caillat)
87
"Tell Me Why" [da]
"The Way I Loved You" 72
"Forever & Always" 34 37
  • RIAA: Bạch kim[2]
"The Best Day" [dc]
"Jump Then Fall" 2009 10 98 14
"Untouchable" 19 23
"Come in with the Rain" 30 40
"SuperStar" 26 35
"The Other Side of the Door" 22 30
"Breathless" 2010 72 49 116 Hope for Haiti Now
"Dear John" 54 68 Speak Now
"Never Grow Up" 84
"Enchanted" 75 95
"Better Than Revenge" 56 73
"Haunted" 63 61
"Last Kiss" 71 99
"Innocent" 27 53
"Long Live" 85
"Drops of Jupiter" (Live) 2011 [dd] Speak Now World Tour – Live
"I Almost Do" 2012 65 50 Red
"Stay Stay Stay" 91 70
"Treacherous" [de] 65
"All Too Well" 80 59
"Starlight" [df] 80
"Holy Ground" [dg] 89
"The Lucky One" [dh] 88
"Sad Beautiful Tragic" [di] 92
"All You Had to Do Was Stay" 2014 [dj] 99 92 1989
"How You Get the Girl" [dk] 81
"This Love" [dl] 84
  • RIAA: Bạch kim[2]
"I Did Something Bad" 2017 [dm] 5 Reputation
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Số liệu của Taylor Swift trên toàn cầu tính đến tháng 3 năm 2011.[24]
  2. ^ Số liệu của Taylor Swift tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[25]
  3. ^ Số liệu của Fearless trên toàn cầu tính đến năm 2009.[29]
  4. ^ Số liệu của Fearless tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[30]
  5. ^ Số liệu của Fearless tại Úc tính đến tháng 12 năm 2017.[29]
  6. ^ Số liệu của Fearless tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  7. ^ Số liệu của Speak Now trên toàn cầu tính đến tháng 9 năm 2011.[37]
  8. ^ Số liệu của Speak Now tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[30]
  9. ^ Số liệu của Speak Now tại Canada tính đến tháng 11 năm 2010.[38]
  10. ^ Số liệu của Speak Now tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 1 năm 2015.[39]
  11. ^ Số liệu của Red trên toàn cầu tính đến tháng 5 năm 2013.[43]
  12. ^ Số liệu của Red tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  13. ^ Số liệu của Red tại Nhật Bản tính đến tháng 12 năm 2013.[44]
  14. ^ Số liệu của Red tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  15. ^ Số liệu của 1989 trên toàn cầu tính đến năm 2016. Theo Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế, 1989 đã bán 6.0 triệu bản năm 2014,[50] 3.5 triệu bản năm 2015[51] và 0.6 triệu bản năm 2016,[52] tổng cộng là 10.1 triệu bản.
  16. ^ Số liệu của 1989 tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  17. ^ Số liệu của 1989 tại Canada tính đến tháng 11 năm 2017.[53]
  18. ^ Số liệu của 1989 tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2017.[54]
  19. ^ Số liệu của 1989 tại Nhật Bản tính đến tháng 4 năm 2015.[55]
  20. ^ Số liệu của 1989 tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  21. ^ Số liệu của Reputation trên toàn cầu tính đến tháng 4 năm 2018.[60]
  22. ^ Số liệu của Reputation tại Mỹ tính đến tháng 7 năm 2018.[61]
  23. ^ Số liệu của Reputation tại Úc tính đến tháng 11 năm 2017.[62]
  24. ^ Số liệu của Reputation tại Canada tính đến tháng 11 năm 2017.[63]
  25. ^ Số liệu của Reputation tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2017.[54]
  26. ^ Số liệu của Reputation tại Nhật Bản tính đến tháng 11 năm 2017.[64]
  27. ^ Số liệu của Reputation tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  28. ^ Số liệu của Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017. [13]
  29. ^ Số liệu của Beautiful Eyes tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  30. ^ Số liệu của "Tim McGraw" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  31. ^ Số liệu của "Teardrops on My Guitar" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  32. ^ Số liệu của "Our Song" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  33. ^ Số liệu của "Picture to Burn" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  34. ^ Số liệu của "Should've Said No" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  35. ^ Số liệu của "Love Story" trên toàn cầu tính đến tháng 11 năm 2017.[29]
  36. ^ Số liệu của "Love Story" tại Mỹ tính đến tháng 12 năm 2017.[29]
  37. ^ Số liệu của "Love Story" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 10 năm 2014.[80]
  38. ^ Số liệu của "White Horse" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  39. ^ Số liệu của "You Belong with Me" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  40. ^ Số liệu của "Fifteen" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  41. ^ Số liệu của "Fearless" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  42. ^ Số liệu của "Today Was a Fairytale" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  43. ^ Số liệu của "Mine" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  44. ^ Số liệu của "Back to December" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  45. ^ Số liệu của "Mean" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  46. ^ Số liệu của "Sparks Fly" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  47. ^ Số liệu của "Ours" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  48. ^ Số liệu của "Safe & Sound" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  49. ^ Phiên bản đĩa đơn của "Long Live" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, phiên bản album đạt hạng 86 trên Billboard Hot 100 dựa theo lượng tải nhạc số.[88]
  50. ^ Số liệu của "Eyes Open" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  51. ^ Số liệu của "We Are Never Ever Getting Back Together" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  52. ^ Số liệu của "We Are Never Ever Getting Back Together" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  53. ^ Số liệu của "Ronan" tại Mỹ tính đến tháng 9 năm 2012.[96]
  54. ^ Số liệu của "Begin Again" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  55. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  56. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Pháp tính đến tháng 12 năm 2013.[97]
  57. ^ Số liệu của "I Knew You Were Trouble" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 12 năm 2014.[98]
  58. ^ Số liệu của "22" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  59. ^ Số liệu của "Highway Don't Care" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  60. ^ Số liệu của "Red" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  61. ^ Số liệu của "Everything Has Changed" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  62. ^ Số liệu của "Sweeter than Fiction" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2013.[107]
  63. ^ "The Last Time" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  64. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  65. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Canada tính đến tháng 1 năm 2015.[108]
  66. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Pháp tính đến hết năm 2014[109] and 2015.[110]
  67. ^ Số liệu của "Shake It Off" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  68. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  69. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Pháp tính đến hết năm 2015.[110]
  70. ^ Số liệu của "Blank Space" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 11 năm 2015.[116]
  71. ^ Số liệu của "Style" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  72. ^ Số liệu của "Style" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  73. ^ Số liệu của "Bad Blood" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  74. ^ Số liệu của "Wildest Dreams" tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  75. ^ Số liệu của "Out of the Woods" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2014.[124]
  76. ^ Số liệu của "Out of the Woods" tại Canada tính đến tháng 10 năm 2014.[125]
  77. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  78. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  79. ^ Số liệu của "I Don't Wanna Live Forever" tại Pháp tính đến hết năm 2017.[128]
  80. ^ Số liệu của "Look What You Made Me Do" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[135]
  81. ^ Số liệu của "Look What You Made Me Do" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 4 năm 2019.[31]
  82. ^ Số liệu của "...Ready for It?" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[135]
  83. ^ "End Game" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 2 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[140]
  84. ^ "New Year's Day" không xếp hạng trên Billboard Hot 100, nhưng đạt vị trí thứ 33 trên Hot Country Songs.[142]
  85. ^ "Gorgeous" chỉ được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Vương quốc Liên hiệp Anh.[143]
  86. ^ Số liệu của "Gorgeous" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2017.[144]
  87. ^ "Getaway Car" chỉ được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Úc và New Zealand.[146]
  88. ^ "Getaway Car" không xếp hạng trên ARIA Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 33 trên ARIA Digital Tracks Chart.[147]
  89. ^ "Getaway Car" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 9 trên NZ Hot Singles Chart.[148]
  90. ^ Số liệu của "Me!" tại Mỹ tính đến tháng 5 năm 2019.[150]
  91. ^ Số liệu của "Me!" tại Vương quốc Liên hiệp Anh tính đến tháng 5 năm 2019.[151]
  92. ^ Số liệu của "Two Is Better Than One" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  93. ^ Số liệu của "Both of Us" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  94. ^ "Babe" không xếp hạng trên NZ Top 40 Singles Chart, nhưng đạt vị trí thứ 10 trên NZ Heatseeker Singles Chart.[158]
  95. ^ Số liệu của "Babe" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2018.[159]
  96. ^ Số liệu của "You're Not Sorry" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[161]
  97. ^ Số liệu của "Crazier" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[13]
  98. ^ "American Girl" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  99. ^ Số liệu của "Speak Now" tại Mỹ tính đến tháng 10 năm 2010.[162]
  100. ^ Số liệu của "Call It What You Want" tại Mỹ tính đến tháng 11 năm 2017.[163]
  101. ^ "I'm Only Me When I'm with You" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 15 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  102. ^ Số liệu của "I'm Only Me When I'm with You" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[161]
  103. ^ "Invisible" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles..[88]
  104. ^ "Umbrella" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  105. ^ "Tell Me Why" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 1 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  106. ^ Số liệu của "Forever & Always" tại Mỹ tính đến tháng 8 năm 2012.[161]
  107. ^ "The Best Day" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 3 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  108. ^ "Drop of Jupiter (Live)" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 7 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  109. ^ "Treacherous" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 2 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  110. ^ "Starlight" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 5 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  111. ^ "Holy Ground" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 12 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  112. ^ "The Lucky One" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 13 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  113. ^ "Sad Beautiful Tragic" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 18 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  114. ^ "All You Had to Do Was Stay" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 14 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  115. ^ "How You Get the Girl" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 4 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  116. ^ "This Love" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 19 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]
  117. ^ "I Did Something Bad" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng đạt vị trí thứ 14 trên Bubbling Under Hot 100 Singles.[88]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trust, Gary (29 tháng 10 năm 2009). “Chart Beat Thursday: Taylor Swift, Tim McGraw Linked Again”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap aq ar as at au av ax ay ăa ăă ăâ ăb ăc ăd ăđ ăe “American certifications – Taylor Swift” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017. 
  3. ^ a ă â b c d “Taylor Swift – Chart History: Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ a ă â “Taylor Swift – Chart History: Billboard 200”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  5. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Edges Susan Boyle For 2009's Top-Selling Album”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  6. ^ Pietroluongo, Silvio (12 tháng 11 năm 2009). “Rihanna's 'Roulette' Lands In Hot 100's Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ Pietroluongo, Silvio (27 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Swipes Female Download Record; Haiti Tracks Chart”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ Apodaca, Joseph. “Billboard names Taylor Swift 2014's No. 1 music Money Maker — see who made the top 10”. KABC-TV. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  9. ^ Keith Caulfield (4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  10. ^ Trust, Gary (27 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Debuts At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014. 
  11. ^ Trust, Gary (12 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift Tallies 70th Hot 100 Hit, Tying Nicki Minaj for Second-Most Among Women”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2016. 
  12. ^ “Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016. 
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae Trust, Gary (26 tháng 11 năm 2017). “Ask Billboard: Taylor Swift's Career Album & Song Sales”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017. 
  14. ^ “10 Life mantras by Taylor Swift to live by”. India Today. 13 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2019. 
  15. ^ “Discography Taylor Swift”. ARIA Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ “Taylor Swift – Chart History: Canadian Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  17. ^ a ă â “Discographie Taylor Swift” (bằng tiếng Pháp). lescharts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ “charts.de: Taylor Swift” (bằng tiếng Đức). charts.de. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ a ă â b “Discography Taylor Swift”. Irish Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010. 
  20. ^ a ă テイラー・スウィフト (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  21. ^ a ă â b “Discography Taylor Swift”. New Zealand Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  22. ^ a ă Thứ hạng cao nhất tại Thụy Điển:
  23. ^ a ă â b “Taylor Swift” (select "Albums" or "Singles"). Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2016. 
  24. ^ “Taylor Swift’s Worldwide Album Sales Top 20 Million”. CMT. 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019. 
  25. ^ Anne Steele (8 tháng 11 năm 2017). “In the Streaming Age, Taylor Swift Plugs ‘Reputation’ on CD”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  26. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Australian Recording Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  27. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s “Britain certifications – Taylor Swift” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015.  Nhập Taylor Swift vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y “Canada certifications – Taylor Swift”. Music Canada. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2011. 
  29. ^ a ă â b “Nine years on, Taylor Swift’s ’Fearless’ is certified Diamond for U.S. sales of 10 million”. The Music Network. 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019. 
  30. ^ a ă Bjorke, Matt (26 tháng 11 năm 2017). “Top Country Catalog Sales Chart: November 26, 2017”. Roughstock. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2017. 
  31. ^ a ă â b c d đ e ê Copsey, Rob (26 tháng 4 năm 2019). “Taylor Swift's Official Top 20 biggest singles in the UK revealed”. Official Charts Company. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2019. 
  32. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015. 
  33. ^ a ă â “Gold-/Platin-Datenbank (Taylor Swift)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018. 
  34. ^ “2009 Certification Awards – Multi Platinum”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  35. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2010年2月 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  36. ^ a ă “Latest Gold / Platinum Albums”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  37. ^ Wyland, Sarah (20 tháng 9 năm 2011). “Taylor Swift Celebrates Nashville Homecoming”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2011. 
  38. ^ Williams, John (3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift shakes up charts”. JAM! Music (Canoe.ca). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  39. ^ Jones, Alan (19 tháng 1 năm 2015). “Official Charts Analysis: Uptown Funk holds on to No.1 for fifth week with sales of 125,948”. Music Week. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  40. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  41. ^ “2010 Certification Awards – Gold”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  42. ^ “ゴールドディスク認定作品一覧 2010年12月” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  43. ^ Adams, Cameron (8 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift to play stadiums on Australian Red tour”. The Advertiser. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  44. ^ Doanh số album Red tại Nhật bản:
  45. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2014 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  46. ^ “Taylor Swift Red” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  47. ^ “2012 Certification Awards – Platinum”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2012. 
  48. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2013年4月 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  49. ^ “NZ Top 40 Albums Chart – 29 October 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  50. ^ “IFPI Digital Music Report 2015” (PDF). Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017. 
  51. ^ “IFPI Global Music Report 2016” (PDF). Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017. 
  52. ^ “ANUARIO SGAE DE LAS ARTES ESCÉNICAS, MUSICALES Y AUDIOVISUALES 2017 - MÚSICA GRABADA” (PDF) (bằng tiếng spanish). Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017. 
  53. ^ Farrell, David (13 tháng 11 năm 2017). “First Day Sales For Swift's 'Reputation' Through The Roof”. FYI Music. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2017. 
  54. ^ a ă Ruelle, Yohann (22 tháng 12 năm 2017). “The 2017 albums: Taylor Swift builds his own 'Reputation' (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  55. ^ Doanh số của album 1989 tại Nhật bản:
  56. ^ Ryan, Gavin (19 tháng 12 năm 2015). “ARIA Albums: Adele Stays at No 1 for Christmas”. Noise11. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2015. 
  57. ^ a ă “Sveriges Officiella Topplista” (To access, enter the search parameter "Taylor Swift" and select "Search by Keyword") (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017. 
  58. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2015年3月 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2015. 
  59. ^ “New Zealand album certifications”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015. 
  60. ^ “IFPI Global Music Report 2018” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. tr. 9. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. 
  61. ^ Caulfield, Keith (20 tháng 7 năm 2018). “Billboard 200 Chart Moves: Taylor Swift's 'Reputation' Gets Tour-Fueled Boost”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018. 
  62. ^ Cashmere, Paul (20 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Album Comes In Third Biggest Debut Behind Ed Sheeran and Pink”. Noise11. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  63. ^ “Taylor Swift's 'Reputation' Is Now A Platinum Album”. FYIMusicNews. 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017. 
  64. ^ Jones, Alan (17 tháng 11 năm 2017). “International Charts Analysis: Taylor Swift dominates around the globe”. Music Week. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019. 
  65. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2018 Albums”. Australian Recording Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  66. ^ ゴールドディスク認定作品一覧 2018年3月 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018. 
  67. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Reputation”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018. 
  68. ^ “Rhapsody Originals”. Rhapsody. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  69. ^ “iTunes Live from SoHo by Taylor Swift”. iTunes Store. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  70. ^ “Live from SoHo”. Taylor Swift's official website. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015. 
  71. ^ “Taylor Swift Records "Delicate" and Earth, Wind & Fire's "September" for Spotify Singles”. Spotify. 13 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2018. 
  72. ^ Park, Andrea (13 tháng 4 năm 2018). “Taylor Swift drops two new songs on Spotify Singles”. CBS. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2018. 
  73. ^ https://www.allmusic.com/album/reputation-stadium-tour-surprise-song-playlist-mw0003243799
  74. ^ https://portalpopline.com.br/taylor-swift-publica-playlist-especial-como-despedida-da-turne/
  75. ^ a ă â Thứ hạng đĩa đơn cao nhất tại Úc:
  76. ^ a ă â b “Taylor Swift – Chart History: Billboard Canadian Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  77. ^ a ă “Discography Taylor Swift”. Danish Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013. 
  78. ^ a ă Thứ hạng bài hát cao nhất tại Nhật Bản:
  79. ^ “swedishcharts.com - Discography Taylor Swift”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. 
  80. ^ Jones, Alan (27 tháng 10 năm 2014). “Official Charts Analysis: Trainor matches Clean Bandit for longest-running No.1 single of 2014”. Music Week (Intent Media). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018. 
  81. ^ a ă â b c “ARIA Charts – Accreditations – 2015 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014. 
  82. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  83. ^ a ă â “Latest Gold / Platinum Singles”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  84. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2014 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014. 
  85. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. RIAJ Digital Track Chart. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  86. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  87. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. RIAJ Digital Track Chart. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  88. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Taylor Swift – Chart History: Bubbling Under Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  89. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 30 tháng 4 năm 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  90. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  91. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – We Are Never Ever Getting Back Together” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  92. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  93. ^ “TAYLOR SWIFT We Are Never Ever Getting Back Together” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  94. ^ a ă “ja:レコード協会調べ 1月度有料音楽配信認定 <略称:1月度認定>” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2015. 
  95. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 7 tháng 1 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2013. 
  96. ^ Trust, Gary (12 tháng 9 năm 2012). “Taylor Swift's 'Never' Is Hot 100's Longest-Leading Country Song Since 1980”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019. 
  97. ^ “The most sold Singles in 2013”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  98. ^ Jones, Alan (28 tháng 12 năm 2014). “Official Charts Analysis: Sheeran's x scores 12th week at No.1 with sales of 211,168”. Music Week. Intent Media. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018. 
  99. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Taylor Swift; 'I Knew You Were Trouble')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  100. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  101. ^ “TAYLOR SWIFT I Knew You Were Trouble” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  102. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 21 tháng 1 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  103. ^ “Certificeringer”. ifpi.dk. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013. 
  104. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 22 tháng 4 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  105. ^ “American certifications – McGraw, Tim”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  106. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 22 tháng 9 năm 2013”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2013. 
  107. ^ Trust, Gary (1 tháng 11 năm 2013). “Chart Moves: Taylor Swift Makes 'Sweet' Start, Tyga Teams With Justin Bieber on Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019. 
  108. ^ Bliss, Karen (27 tháng 1 năm 2015). “Nielsen: Canada Loved Taylor Swift, Streaming Music and, Yep, Vinyl in 2014”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  109. ^ “The most sold Songs in 2014”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2018. 
  110. ^ a ă “The most sold Songs in 2015”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  111. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Shake it off” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  112. ^ “Certificeringer - Taylor Swift - Shake It Off”. IFPI Denmark. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2014. 
  113. ^ “Taylor Swift — Shake It Off” (bằng tiếng Thụy Điển). Grammofon Leverantörernas Förening. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2014. 
  114. ^ “Gold Disc 2015年10月度” (Bulletin) (bằng tiếng Nhật) 673. Recording Industry Association of Japan. 20 tháng 11 năm 2015. tr. 14. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015. 
  115. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – ngày 9 tháng 2 năm 2015”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2015. 
  116. ^ Myers, Justin (7 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift's 1989 one year on”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018. 
  117. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Blank Space” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019. 
  118. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 22 December 2014”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  119. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Style”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  120. ^ Ryan, Gavin (5 tháng 12 năm 2015). “ARIA Singles: Adele 'Hello' Spends Sixth Week at No 1”. Noise11. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015. 
  121. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift feat. Kendrick Lamar – Bad Blood”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015. 
  122. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Australian Recording Industry Association. 30 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015. 
  123. ^ “New Zealand single certifications”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  124. ^ Paul Grein (23 tháng 10 năm 2014). “Chart Watch: Women Overpower Men, Week 7”. Yahoo!. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014. 
  125. ^ “A Journal of Musical ThingsWeekly Music Sales Report and Analysis: 22 October 2014”. A Journal of Musical Things. 
  126. ^ Ryan, Gavin (16 tháng 1 năm 2016). “ARIA Singles: Justin Bieber 'Love Yourself' Spends 6th Week at No 1”. Noise11. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2016. 
  127. ^ Ryan, Gavin (23 tháng 4 năm 2016). “ARIA Singles: Gnash 'I Hate U, I Love U' Spends Second Week at No 1”. Noise11. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016. 
  128. ^ “The most sold Songs in 2017”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  129. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Australian Recording Industry Association. 27 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2017. 
  130. ^ “Italian single certifications – Zayn & Taylor Swift – I don't wanna live forever” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  131. ^ “Zayn & Taylor Swift "I Don't Wanna Love Forever". IFPI Denmark. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2017. 
  132. ^ a ă â “Sverigetopplistan” (To access, enter the search parameter "Taylor Swift" and select "Search by Keyword") (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  133. ^ “New Zealand single certifications – Zayn and Taylor Swift – I Don't Wanna Live Forever”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2017. 
  134. ^ a ă “Notre Base de Données: Taylor Swift” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  135. ^ a ă “Billboard Digital Songs Chart Week Ending October 5, 2017” (PDF). Nielsen SoundScan. 9 tháng 10 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019. 
  136. ^ a ă â b c d “ARIA Charts – Accreditations – 2018 Singles”. Australian Recording Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  137. ^ “Italian single certifications – Taylor Swift – Look What You Made Me Do” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019. 
  138. ^ “New Zealand single certifications – Taylor Swift – Look What You Made Me Do”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2017. 
  139. ^ “Taylor Swift propose « End Game » aux radios françaises, un titre partagé avec Ed Sheeran et Future”. Aficia. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017. 
  140. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 11 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  141. ^ Trust, Gary; Asker, Jim (14 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift's 'New Year's Day' Goes to Country Radio: Is Country Ready for It?”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018. 
  142. ^ “Taylor Swift Chart History: Hot Country Songs”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  143. ^ “BBC – Radio 1 – Playlist”. BBC Radio 1. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018. 
  144. ^ Trust, Gary (30 tháng 10 năm 2017). “Taylor Swift Ties Rihanna for Most Digital Song Sales No. 1s With Debut of 'Gorgeous'. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  145. ^ “American certifications – Taylor Swift – Delicate” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018. 
  146. ^ “Uncharted: Taylor Swift prepares for Aus tour with next radio single”. The Music Network. 10 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2019. 
  147. ^ “ARIA Australian Top 40 Digital Tracks” (PDF). Australian Recording Industry Association. 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018. 
  148. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 24 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2018. 
  149. ^ “Taylor Swift 'Road to Reputation' Screening”. auspOp. 27 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2018. 
  150. ^ Sisario, Ben (7 tháng 5 năm 2019). “Taylor Swift’s ‘Me!’ Is Thwarted by a Fifth No. 1 for ‘Old Town Road’”. nytimes. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019. 
  151. ^ Snapes, Laura (3 tháng 5 năm 2019). “Stormzy soars past Taylor Swift to score first UK No 1 single”. The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  152. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Australian Recording Industry Association. 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019. 
  153. ^ “American single certifications – Boys Like Girls – Two Is Better Than One” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  154. ^ “American single certifications – John Mayer – Half of My Heart” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  155. ^ “American single certifications – B.o.B – Both of Us” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  156. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2012. 
  157. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 6 August 2012”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  158. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. 30 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018. 
  159. ^ Bjorke, Matt (13 tháng 11 năm 2018). “Top 30 Digital Country Singles Chart: November 13, 2018”. RoughStock. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018. 
  160. ^ “I Heart ? – Taylor Swift | Release Information, Reviews and Credits”. AllMusic. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  161. ^ a ă â “Ask Billboard: Taylor Swift's Career Sales”. Billboard. 25 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  162. ^ Caulfield, Keith; Pietroluongo, Silvio (14 tháng 10 năm 2010). “Chart Moves: 'Glee,' Mavis Staples, Stephen Colbert, 'Social Network,' Pink”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010. 
  163. ^ Trust, Gary (13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Notches Fourth Digital Song Sales No. 1 From 'Reputation' With 'Call It What You Want'. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  164. ^ “Spotify Singles – Taylor Swift”. Spotify. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2018. 
  165. ^ Peak positions for other charted songs in Australia:
  166. ^ “NZ Top 40 Singles Chart – 3 November 2014”. NZTOP40. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2014. 
  167. ^ Vị trí bài hát cao nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh:

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]