De Havilland Comet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
DH 106 Comet
BEA de Havilland DH-106 Comet 4B Berlin.jpg
British European Airways (BEA) Comet 4B đến sân bay Berlin Tempelhof năm 1969
Kiểu Narrow-body jet airliner
Quốc gia chế tạo Anh quốc
Hãng sản xuất de Havilland
Chuyến bay đầu tiên 27 Tháng 7 năm 1949
Bắt đầu
được trang bị
vào lúc
2 Tháng 5 năm 1952 với BOAC
Ngừng hoạt động 14 tháng 3 năm 1997 (Comet 4C XS235)
Tình trạng Ngừng sử dụng
Trang bị cho BOAC
Được chế tạo 1949–1964
Số lượng sản xuất 114 (including prototypes)[1][N 1]
Giá thành Comet 1: £275,000 (1952)[3]
Phát triển thành Hawker Siddeley Nimrod

De Havilland DH 106 Cometmáy bay phản lực thương mại đầu tiên trên thế giới. Được phát triển và sản xuất bởi de Havilland tại Sân bay HatfieldHertfordshire, Vương quốc Anh, nguyên mẫu Comet 1 đã bay lần đầu tiên vào năm 1949. Nó có thiết kế sạch về mặt khí động học với bốn động cơ phản lực de Havilland Ghost được chôn trong rễ cánh, cabin áp lực và lớn cửa sổ vuông. Đối với thời đại, nó cung cấp một cabin hành khách tương đối yên tĩnh, thoải mái và được hứa hẹn về mặt thương mại khi ra mắt vào năm 1952.

Tuy nhiên, trong vòng một năm kể từ khi tham gia dịch vụ hàng không, các vấn đề bắt đầu xuất hiện, với ba chiếc Comet hỏng trong vòng mười hai tháng trong các vụ tai nạn máy bay được công bố rộng rãi, sau khi trải qua những cuộc chia tay thảm khốc trong chuyến bay. Hai trong số này được tìm thấy là do lỗi cấu trúc do mỏi kim loại trong khung máy bay, một hiện tượng chưa được hiểu đầy đủ vào thời điểm đó. Một cái khác là do quá tải máy bay trong suốt chuyến bay qua thời tiết khắc nghiệt. Comet đã được rút khỏi dịch vụ và được thử nghiệm rộng rãi. Lỗi thiết kế và lắp ráp, bao gồm tán đinh không đúng cách và nồng độ áp lực nguy hiểm xung quanh một số cửa sổ vuông, cuối cùng đã được xác định. Do đó, Comet được thiết kế lại rộng rãi, với các cửa sổ hình bầu dục, gia cố cấu trúc và các thay đổi khác. Trong khi đó, các nhà sản xuất đối thủ đã chú ý đến những bài học rút ra từ Comet trong khi phát triển máy bay của riêng họ.

Mặc dù doanh số chưa bao giờ phục hồi hoàn toàn, Comet 2 cải tiến và Comet 3 nguyên mẫu đã đạt đến đỉnh cao trong loạt Comet 4 được thiết kế lại và ra mắt vào năm 1958,nơi nó sẽ tiếp tục phục vụ thương mại đến năm 1981. Comet cũng được điều chỉnh cho nhiều vai trò quân sự như vận chuyển VIP, y tế và hành khách, cũng như giám sát. Mẫu Comet 4 cuối cùng, được dùng là mẫu nghiên cứu, thực hiện chuyến bay cuối vào năm 1997. Lần sửa đổi sâu rộng nhất dẫn đến một biến thể tuần tra hàng hải chuyên dụng, Hawker Siddeley Nimrod, vẫn phục vụ trong Không quân Hoàng gia cho đến năm 2011, hơn 60 năm sau chuyến bay đầu tiên của Comet.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay 11 tháng 3 năm 1943, Hội đồng Nội các Anh Quốc thành lập Ủy ban Brabazon với nhiệm vụ dự đoán như cầu máy bay của nước Anh sau Thế chiến thứ 2. Một trong những nhu cầu đặt ra là việc phát triển và sản xuất một mẫu máy bay chở thư điều áp, xuyên Đại Tây Dương có thể chở 1 tấn(1,000 kg; 2,200 lbs) ở tốc độ hành trình là 400 dặm(640 km/h) không ngững nghỉ. Công ty hàng không de Havilland thấy hứng thú với yêu cầu trên, nhưng quyết định sẽ thách thức suy nghĩ chung thời đó rằng động cơ phản lực quá tốn nhiên liệu và thiếu tin cậy cho mục đích như vậy. Và thế là chủ tịch hãng kiêm thành viên ủy ban Ngài Geoffrey de Havilland quyết định dùng ảnh hưởng cá nhân và tính chuyên nghiệp của công ty để phát triển một mẫu máy bay phản lực với đề xuất dùng nguyên thiết kế động cơ tuốc-bin phản lực.

Thử nghiệm và các nguyên mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chiếc Comet được coi là loại máy bay chở khách mới, những thử nghiệm nghiêm ngặt hơn được coi là ưu tiên phát triển hàng đầu. Từ năm 1947 đến năm 1948, hãng tiến hành một giai đoạn phát triển và nghiên cứu sâu, bao gồm việc sử dụng vài thanh giàn thử tải áp tại nhà máy hàng không Hatfield với các bộ phận lớn nhỏ như nhau. Vài phần của thân máy bay được thử nghiệm bằng buồng điều áp liên tục đến khi thân bị nứt vỡ. Song việc xác định những điểm gây nứt lại cực kỳ khó với giải pháp này, nên de Havilland quyết định chuyển sang thử nghiệm cấu trúc bằng một cái bể nước lớn mà có thể điều chỉnh áp suất liên tục và an toàn. Toàn bộ khoang trước của thân máy bay được thử nghiệm độ mòn của kim loại bằng việc liên tục điều áp 2,75 lbs/in² qua 16,000 chu kỳ, tương đương 40,000 giờ bay. Các của số cũng được thử tải với áp lực là 12 psi(83 kPA), cao hơn 4,75 psi(32,8 kPa) so với áp lực dự đoán khi ở trần bay thường là 36,000 ft(11,000m). Một khung cửa sổ trong số đó chịu tải được lên tận 1,00 psi(690 kPa), tức là hơn 1,250% so với tải áp tối đa dự định lúc đưa vào hoạt động.

Nguyên mẫu Comet 1 đầu tiên(mã thử hạng B: G-5-1)hoàn thành năm 1949 và ban đầu được dùng để tiến hành các thử nghiệm trên mặt đất và các chuyến bay tạm thời đầu tiên. Chuyến bay đầu tiên của nó từ Hatfield, được thực hiện vào ngày 27 tháng 7 năm 1949 và nó kéo dài 31 phút. Phi công điều khiển chuyến bay đó là Trưởng Phi công Thử nghiệm của hãng John "Mắt Mèo" Cunningham, phi công bay đêm nổi tiếng trong Thế chiến thứ 2. Cùng với ông là cơ phó Harold "Tubby Waters, kĩ sư John Wilson(điện) và Frank Reynolds(thủy lực) và quan sát chuyến bay viên Tony Fairbrother.

Nguyên mẫu được đăng bạ G-ALVG trước khi trưng bày công khai ở Triển lãm hàng không Farnborough 1949 trước khi được đưa vào thử bay. 1 năm sau, nguyên mẫu thứ 2 G-5-2 tiến hành chuyến bay đầu tiên, vào tháng 7/1950 được đăng ký G-ALZK.....

  1. ^ a b Lo Bao 1996, pp. 36–47.
  2. ^ Walker 2000, pp. 185–190.
  3. ^ "Great Airliners 11: de Havilland Comet". Flight, ngày 14 tháng 3 năm 1974. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “N”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="N"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu