Gấu túi mũi trần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Gấu túi mũi trần
Thời điểm hóa thạch: Miocen muộn–gần đây

Lỗi biểu thức: Dư toán tử < Lỗi biểu thức: Dư toán tử <

Vombatus ursinus -Maria Island National Park.jpg
Vombatus ursinus
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Diprotodontia
Phân bộ (subordo)Vombatiformes
Họ (familia)Vombatidae
(Burnett, 1829)[1]
Các chi
Danh pháp đồng nghĩa
Phascolomyidae Goldfuss, 1820.

Gấu túi mũi trần (danh pháp khoa học: Vombatidae) là một họ động vật có vú trong bộ Hai răng cửa. Họ này được Burnett miêu tả năm 1829. Gấu túi mũi trần là loài thú có túi bốn chân ngắn, cơ bắp, có nguồn gốc từ Úc. Là loài động vật duy nhất có phân hình lập phương. Chúng có chiều dài khoảng 80 cm với đuôi nhỏ, mập mạp và nặng từ 20 đến 35kg (44 đến 77lb). Có ba loài còn tồn tại và chúng đều là thành viên của họ Vombatidae. Chúng có khả năng thích nghi và chịu được môi trường sống, và được tìm thấy ở các khu vực rừng, núi và vùng đất hoang ở phía đông nam Australia, bao gồm Tasmania, cũng như một khu vực cách ly khoảng 300ha (740 mẫu Anh) trong Công viên quốc gia Epping Forest [2] trung tâm Queensland.

Gấu túi mũi trần sống trong các hang trong đất, do chúng tự đào. Các hang kéo dài đến hàng chục m và có nhiều ngóc ngách.

Chân của chúng có móng vuốt cứng, thuận lợi cho việc đào bới.

Chúng hoạt động chủ yếu về đêm. Thức ăn của chúng chủ yếu là rễ và cỏ.

Chúng hầu như không sợ người.

Chúng mang con non của chúng trong các cái túi ở phía mông của Gấu mẹ, tương tự như chuột túi. Đây là một cấu tạo cơ thể hoàn hảo nhưng đôi khi phân của Gấu mẹ rơi xuống đầu Gấu con. Túi của nó có thể nhô ra và trông có vẻ rất nặng nề.

Gấu con có thể ở trong túi mẹ cho đến khi chúng được khoảng 8 tháng tuổi.

Khi bị kẻ thù truy đuổi, chúng sẽ chạy về hang nhưng không chui hẳn vào hang và chúng chỉ chạy đến cửa hang và để hở cái mông ra ngoài, mục đích nhằm tự vệ trước những kẻ săn mồi. Thực tế là mông của gấu túi mũi trần có thể làm chết một con mèo nếu bị đánh trúng đầu. Đầu của chúng có thể bị biến dạng nếu bị đánh trúng.

[1]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Có 3 loài còn sinh tồn trong họ này[1] , tất cả chúng đều sống ở Úc. Chúng được luật pháp của Úc bảo vệ.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Vombatidae”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  2. ^ “Lasiorhinus krefftii — Northern Hairy-nosed Wombat, Yaminon”. Department of the Environment, Water, Heritage and the Arts. Australian Government. ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010.